Đề Xuất 2/2023 # Định Cục Tính Và An Vòng Tràng Sinh Trong Tử Vi – Học Tử Vi # Top 2 Like | Saigonhkphone.com

Đề Xuất 2/2023 # Định Cục Tính Và An Vòng Tràng Sinh Trong Tử Vi – Học Tử Vi # Top 2 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Định Cục Tính Và An Vòng Tràng Sinh Trong Tử Vi – Học Tử Vi mới nhất trên website Saigonhkphone.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Trong Tử Vi, để lập cục ta tìm vị trí cung Mệnh và Thiên Can năm sinh để xác định một lá số thuộc về Cục gì ví dụ tuổi Bính mệnh lập tại Dậu là Hoả Lục Cục, từ Cục thì mới xác định được vị trí sao Tử Vi mà lập thành 2 vòng Âm Dương Lưỡng Diệu.

Có năm loại Cục là Thủy Nhị Cục, Mộc Tam Cục, Kim Tứ Cục, Thổ Ngũ Cục và Hoả Lục Cục. Tuy nhiện, ngũ hành này vẫn chưa nói lên thuộc tính của nó là dương hay âm, mà vật thì luôn mang tính âm dương, vậy tại sao Ngũ Hành của Cục từ trước đến nay trong các sách Tử Vi vẫn chưa định tính Âm Dương cho Cục mà chỉ căn cứ vào Âm Dương của Mênh như Âm Nam Dương Nữ hay Dương Nam Âm Nữ để tính Thuận Lý hay Nghịch Lý và an vòng Tràng Sinh, trong khi đó Mệnh là Mệnh mà Cục là Cục làm sao gán ghép được.

Trong một lá số thường tương quan mệnh cục chỉ được ghi đơn giản là Mệnh sinh Cục, Cục khắc Mệnh hay Mệnh Cục bình hoà.

Cục về bản chất là ngũ hành của cung mệnh trong Tử Vi, vì vậy người xưa nói Cục là Môi Trường của Mệnh.

Về phương diện khoa học thì Cục chính là ngũ hành nạp âm của tháng trong năm mà cung Mệnh đặt tại đó (1).

Năm có 60 hoa giáp từ Giáp Tí đến Quý Hợi chia ra thành 30 dạng Ngũ Hành Nạp Âm, mỗi dạng Ngũ Hành Nạp Âm chia ra làm âm và dương.

Ví dụ: Giáp Tí, Ất Sữu có Ngũ Hành Nạp Âm là Hải Trung Kim, và Giáp Tí thuộc Dương còn Ất Sửu thuộc Âm.

Tương quan điểm số (1) sẽ được minh hoạ bằng ví dụ sau đây:

Tuổi Bính (Dương nam) cung Mệnh ở Thân có cục là: Hỏa Lục Cục.

Bằng phép tính Ngũ Hộ Độn ta biết rằng năm Bính thì tháng giêng là Canh Dần, tháng 02 Tân Mão, tháng 03 Nhâm Thìn…đến tháng 07 là Bính Thân, tháng 08 là Đinh Dậu….

Tra lại Ngũ Hành Nạp Âm của Bính Thân và Đinh Dậu ta thấy cả hai đều là Sơn Hạ Hoả mà Bính Thân là dương còn Đinh Dậu là Âm.

Các bạn có thể làm ví dụ tương tự để kiểm tra Ngũ Hành cục của mình.

Qua ví dụ trên ta thấy một Cục cho ta biết đến ít nhất 02 yếu tố: Ngũ Hành và Âm Dương, mà trong Tử Vi hiện nay chỉ sử dụng Ngũ Hành của Cục mà chưa dùng đến yếu tố Âm Dương. Trong khi đó cả Âm Dương và Ngũ Hành đều quan trọng như nhau và thiết yếu như nhau trong Tử Vi.

Định Tính Cho Cục

Như vậy, một Cục để bao gồm 04 yếu tố: Âm Dương, Ngũ Hành, Tính Chất Ngũ Hành và Độ Số

Ví dụ: Tuổi Bính Hoả Lục Cục mệnh tại Dậu thì:

1-Âm Dương: Căn cứ vào địa chi cung Mệnh mà xác định được Cục đó là Âm hay Dương. Ví dụ: Tuổi Bính mệnh lập tại Dậu là Cục Dương.

2-Ngũ Hành: Thuộc Hoả

3-Tính Chất Ngũ Hành: Sơn Hạ Hoả là Lửa dưới núi

4-Độ Số: Hỏa Lục Cục nên có độ số là 06

Phân Loại Cục Theo Âm Dương và Ngũ Hành Nạp Âm của Cục

1-Dương Thủy Nhị Cục

2-Âm Thủy Nhị Cục

3-Dương Mộc Tam Cục

4-Âm Mộc Tam Cục

5-Dương Kim Tứ Cục

6-Âm Kim Tứ Cục

7-Dương Thổ Ngũ Cục

8-Âm Thổ Ngũ Cục

9-Dương Hỏa Lục Cục

10-Âm Hoả Lục Cục

Tính Cục Nhanh Theo Tháng Cung Mệnh

Qua ví dụ trên, ta thấy rằng bản chất của Cục chỉ là Ngũ Hành Nạp Âm của tháng mà cung Mệnh đặt tại đó trong năm ta sinh ra. Cho nên, ta chỉ cần tính ra tháng trong năm mà cung Mệnh ta đặt tại đó có Ngũ Hành Nạp Âm là gì, vậy là xong, chẳng cần phải nhớ dài dòng bài ca quyết “Tòng Thiên Can Tầm Cục Ca” (Hiện nay cũng ít người biết chữ Hán, nên bài ca quyết này cũng không dùng được bao nhiêu) là:

Giáp Kỷ giang đăng giá bích ngân

Ất Canh yên cảnh tích mai tân

Bính Tân đề liễu ba ngân trúc

Đinh Nhâm mai tiễn chước hải trần….

Theo cách tính xưa thì đòi hỏi người nghiên cứu Tử Vi phải biết chữ Hán, còn theo cách nhanh sau đây thì chúng ta chỉ cần biết Ngũ Hành Nạp Âm của cung Mệnh theo tháng sinh là có thể tính ra được Cục rồi.

Ví dụ, tuổi Mậu Tuất sinh ngày 01 tháng 04 âm lịch giờ Ngọ.

Tính nhanh:

-Từ cung tháng sinh tính thuận theo giờ sinh đến cung nào ngưng tại cung đó, cung đó là cung Mệnh. Sinh tháng 04 là tháng Tỵ, từ cung Tỵ tính là giờ Tí thuận đến giờ sinh Ngọ là cung Hợi. Như vậy cung Mệnh là cung Hợi.

-Tính ra tháng Hợi năm Mậu Tuất có Thiên Can là gì (Tham khảo bài viết của Caytre: Kiến Thức Căn Bản Các Khoa Phương Đông: Tính Can Chi Tháng Giờ, Tiết Khí, cũng nằm trong mục này). Năm Mậu thì tháng giêng là Giáp Dần tính dần dần đến tháng Hợi là Quý Hợi.

-Quý Hợi có Ngũ Hành Nạp Âm là Đại Hải Thủy, như vậy cung Mệnh là Đại Hải Thủy. Cho nên, Cục của lá số Mậu Tuất này sẽ là Thủy Nhị Cục.

-Cả Nhâm Tuất và Quý Hợi đều là Đại Hải Thủy, mà Quý Hợi là Âm cho nên Thủy Nhị Cục này là Âm Thủy Nhị Cục có độ số là 02.

Như vậy không cần nhớ bài ca quyết xưa, chúng ta cũng có thể tính ra Cục bằng cách thức đơn giản hơn.

An Vòng Tràng Sinh theo Âm Dương của Cục

Vì Tử Vi xưa nay không xác định tính Âm Dương cho Cục nên khi tính vòng Tràng Sinh (Caytre theo cách khởi vòng Tràng Sinh tại Tứ Sinh thuận nghịch theo âm dương), tiền nhân xưa sử dụng tuổi của đương số để khởi thuận hay nghịch vòng Tràng Sinh, ví dụ nếu Hoả Lục Cục tuổi Dương Nam Âm Nữ thì khởi Tràng Sinh theo chiều Thuận, còn tuổi Âm Nam Dương Nữ thì khởi Tràng Sinh theo chiều Nghịch.

Điểm bất hợp lý ở đây là đã dựa vào ngũ hành của Cục để xác định sẽ khởi vòng Tràng Sinh tại đâu? Dần, Thân, Tỵ hay Hợi? Mà cũng phải dựa vào Âm Dương của Cục để xác định vòng Tràng Sinh đó khởi Thuận hay Nghịch. Chứ tại sao lại mang Tuổi Âm hay Dương vào đó để xác định chiều của vòng Tràng Sinh, vì sẽ thiếu điều kiện về tính nhất quán của khoa học trong khi tính Âm Dương của Cục đã có sẳng rồi.

Cho nên Caytre đề nghị chúng ta cùng suy ngẫm về điều đó, trong khi chờ một đáp án chung, Caytre phác thảo lại việc khởi vòng Tràng Sinh theo Âm Dương và Ngũ Hành của Cục, bằng phương pháp phân tích tỉ giảo.

Khởi Vòng Tràng Sinh theo Ngũ Hành Cục và Âm Dương của Tuổi (Cách truyền thống)

Cách của Thái Thứ Lang (Tử Vi Đẩu Số Tân Biên)

-Kim Tứ Cục an Tràng Sinh tại cung Tỵ

-Mộc Tam Cục an Tràng Sinh tại cung Hợi

-Hoả Lục Cục an Tràng Sinh tại cung Dần

-Thủy Nhị Cục và Thổ Ngũ Cục an Tràng Sinh tại cung Thân

Sau khi an sao Tràng Sinh xong thì Dương Nam-Âm Nữ theo chiều Thuận, Âm Nam Dương Nữ theo chiều Nghịch mà an lần luợt 11 sao còn lại của vòng Tràng Sinh.

Cách của Hà Lạc Dã Phu (Tử Vi Áo Bí)

-Dương Nam Âm Nữ, Mộc Tam Cục an Tràng Sinh tại Hợi cung Thuận khởi

-Dương Nam Âm Nữ, Kim Tứ Cục an Tràng Sinh tại Tỵ cung Thuận khởi

-Dương Nam Âm Nữ, Hỏa Lục Cục an Tràng Sinh tại Dần cung Thuận khởi

-Dương Nam Âm Nữ, Thủy Nhị Cục và Thổ Ngũ Cục an Tràng Sinh tại Thân cung Thuận khởi

-Âm Nam Dương Nữ, Mộc Tam Cục an Tràng Sinh tại Mão cung, nghịch khởi.

-Âm Nam Dương Nữ, Kim Tứ Cục an Tràng Sinh tại Dậu cung, nghịch khởi.

-Âm Nam Dương Nữ, Hỏa Lục Cục an Tràng Sinh tại Ngọ cung, nghịch khởi.

-Âm Nam Dương Nữ, Thủy Nhị Cục và Thổ Ngũ Cục an Tràng Sinh tại Tý cung, nghịch khởi.

So Sánh Hai Cách Trên

-Cụ Thái Thứ Lang xem trọng vai trò của Cục hơn nên cụ đã trình bày thứ tự an Vòng Tràng Sinh theo cách đặt Ngũ Hành Cục trước rồi mới trình bày đến Âm Dương Tính. Cụ lấy sao Tràng Sinh để kiểm điểm vòng Tràng Sinh.

-Cụ Hà Lạc Dã Phu ngay từ đầu đã xác định Âm Dương Tính cho một vòng Tràng Sinh, cho nên cụ phân chia ra hai cách khởi vòng Tràng Sinh tại Tứ Sinh hay Tứ Chính tùy theo tuổi Âm Dương theo nguyên lý Dương Tử Âm Sinh. Cụ dùng sao Mộ để kiểm điểm vòng Tràng Sinh.

-Cách của cụ Thái Thứ Lang có khoa học hơn của cụ Hà Lạc vì cụ đặt ngay trọng tâm của vòng Tràng Sinh là dựa vào Cục. Cụ cũng thận trọng hơn khi xét Âm Dương tính sau Ngũ Hành Tính.

-Cách của cụ Hà Lạc dựa vào Âm Dương tính và nguyên lý “Âm Tử Dương Sinh, Dương Tử Âm Sinh” để khởi vòng Tràng Sinh và cho ra hệ quả đương nhiên là phải khởi vòng Tràng Sinh từ Tứ Sinh hoặc Tứ Chính. Nguyên lý này sử dụng rộng rải để tính vòng Tràng Sinh của Thiên Can, nhưng hành Thổ phải đi chung với hành Hỏa chứ không phải hành Thủy. Trong khi đó Cục là Hậu Thiên chứ không phải Tiên Thiên, ở thể Tiên Thiên thì Ngũ Hành đang sinh nên Hỏa sinh ra Thổ, ở thể Hậu Thiên thì Ngũ Hành đã thành hình hài nên Thủy Thổ lẫn vào nhau lấy sự tương khắc mà tiến hoá (Nước chứa trong đất và đất chứa trong nước). Ngũ hành Cục là Ngũ Hành Nạp Âm, có đủ cha mẹ (Can Chi) nên là thể Hậu Thiên.

-Hai cách xác định trên đều dựa vào Tuổi mà Khởi Thuận hay Nghịch, nhưng cách của cụ Thái Thứ Lang thận trọng đặt vai trò của Cục lên đầu gợi ý cho hậu thế suy nghĩ thêm. Nhưng vẫn chưa chứng minh được tính nhất quán về Âm Dương và Ngũ Hành của vòng Tràng Sinh. Theo cách đó thì vòng Tràng Sinh sẽ có Ngũ Hành theo Cục và có Âm Dương theo tuổi, và như vậy là thiếu nhất quán.

Khởi Vòng Tràng Sinh theo Âm Dương Ngũ Hành của Cục (Đề nghị của Caytre)

-Căn cứ vào Ngũ Hành Cục để xác định điểm khởi vòng Tràng Sinh là Dần Thân Tỵ Hợi giống cụ Thái Thứ Lang.

-Mỗi Cục sẽ phân định rõ Âm Dương Tính căn cứ vào Âm Dương của cung Mệnh, sẽ có: Dương Thủy Nhị Cục, Âm Thủy Nhị Cục, Dương Mộc Tam Cục, Âm Mộc Tam Cục, Dương Kim Tứ Cục, Âm Kim Tứ Cục, Dương Thổ Ngũ Cục, Âm Thổ Ngũ Cục, Dương Hoả Lục Cục, Âm Hoả Lục Cục. Dựa vào Âm Dương Tính này mà khởi vòng Tràng Sinh Thuận hay Nghịch. Như vậy ta sẽ có cách an vòng Tràng Sinh như sau:

-Dương Mộc Tam Cục an Tràng Sinh tại Hợi thuận khởi

-Âm Mộc Tam Cục an Tràng Sinh tại Hợi nghịch khởi

-Dương Kim Tứ Cục an Tràng Sinh tại Tỵ thuận khởi

-Âm Kim Tứ Cục an Tràng Sinh tại Tỵ nghịch khởi

-Dương Hoả Lục Cục an Tràng Sinh tại Dần thuận khởi

-Âm Hoả Lục Cục an Tràng Sinh tại Dần nghịch khởi

-Dương Thủy Nhị Cục và Dương Thổ Ngũ Cục an Tràng Sinh tại Thân thuận khởi

-Âm Thủy Nhị Cục và Âm Thổ Ngũ Cục an Tràng Sinh tại Thân nghịch khởi

Tài Liệu Tham Khảo:

1-Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử (1972), Tử Vi Áo Bí Biện Chứng Học, Thống Nhất Tổng Phát Hành, Sài Gòn.

2- Vân Đằng Thái Thứ Lang (1956), Tử Vi Đẩu Số Tân Biên, Tín Đức Thư Xã, Sài Gòn.

(Dẫn theo blog Trần Nhật Thành)

Tử Vi Số Mệnh: Tính Kim Lâu

Câu ca “1, 3, 6, 8 kim lâu – làm nhà cưới vợ tậu trâu thì đừng”, tưởng rằng đã rõ, nhưng lại gây không ít đau đầu và phiền toái, mỗi người, mỗi thầy một ý, Ai cũng cho là mình đúng. Sao lại như vậy? Vâng! xin thưa có rất nhiều cách tính Kim Lâu, có lẽ khó mà rõ phân định đúng sai của từng cách. Nay Tôi xin lược dẫn ra đây, để bạn đọc cùng chiêm nghiệm.

– Lấy số tuổi chia cho 9, số dư mà = 1, 3, 6, 8 thì là phạm Kim Lâu (tính để xem tuổi làm nhà, sửa nhà)

1. Cách tính theo dân gian: – Đối với Nữ có người theo cách tính : hàng đơn vị của tuổi mà = 1, 3, 6, 8 là phạm Kim Lâu (tính để xem tuổi lấy chồng) Bắt đầu tính khởi 1 ở góc Tây Nam, 2 đến Tây, 3 đến Tây Bắc, 4 đến Bắc, 5 vào cung giữa (trung cung), 6 ở Đông Bắc, 7 ở Đông, 8 ở Đông Nam, 9 ở Nam, đến 10 lại về cung giữa rồi tiếp hàng đơn vị 1 ở hướng Tây Nam v.v… Tính như vậy thì luôn luôn ta thấy 1 – 3 – 6- 8 ở các phương, góc có Tứ Mộ (Thìn, Tuất, Sửu, Mùi) có Tứ Sinh (Dần, Thân, Tị, Hợi). Vừa có “Mộ”, lại vừa là “Sinh” nên gọi Kim Lâu, ẩn chứa nhiều hung nguy hơn cát tường nên cần phải kiêng tránh.

2. Cách tính theo sách “Thông thư” của Trung quốc:

Trong sách “Thông thư” lý giải như sau : Lấy 24 phương vị gồm 4 quẻ, 8 thiên can và 12 địa chi, sắp xếp thành : phương Bắc gồm Nhâm- Tí – Quý ; Đông Bắc gồm Sửu – Cấn – Dần ; phương Đông gồm Giáp – Mão – ất ; Đông Nam gồm Thìn – Tốn – Tị ; phương Nam gồm Bính – Ngọ – Đinh ; Tây Nam gồm Mùi – Khôn – Thân ; phương Tây gồm Canh – Dậu – Tân và Tây Bắc gồm Tuất – Càn – Hợi. Dân gian ta thường có câu : “Lấy vợ xem tuổi đàn bà, làm nhà xem tuổi đàn ông”. “Xem tuổi” ở đây ngụ ý chỉ tuổi Kim Lâu. Lại có câu : Một, ba, sáu, tám Kim Lâu Làm nhà, cưới gả hàng đầu phải kiêng + Nếu dư 1 là phạm Kim lâu thân (Gây tai hoạ cho bản thân người chủ); + Nếu dư 3 là phạm Kim lâu thê (Gây tai hoạ cho vợ của người chủ); + Nếu dư 6 là phạm Kim lâu tử (Gây tai hoạ cho con của người chủ); + Nếu dư 8 là phạm Kim lục súc (Gây tai hoạ cho con vật nuôi trong nhà); Riêng cái này có phạm cũng không sao nếu bạn không phải người kinh doanh chăn nuôi hoặc quá yêu quý động vật .

3. Cách tính theo Kim Oanh Ký

Tính Kim Lâu trước 50 Tuổi

KỸ SỮU – TÂN SỮU KỸ MÙI – TÂN MÙI CANH DẦN – CANH THÂN NHÂM DẦN – NHÂM THÂN

4. Cách tính theo phương pháp của

Phạm cung Khôn: Nhất Kim lâu thân: Chính kỵ nhất. Phạm cung Càn: Nhị Kim Lâu thê: kỵ người vợ. Phạm cung Cấn: Tam Kim Lâu tử: kỵ cho con cái Phạm cung Tốn: Tứ Kim Lâu lục súc: kỵ súc vật nuôi.

Có tám tuổi không cấm kỵ kim lâu khi tạo tác, và khi chết cũng không sợ trùng là tuổi : Tính Kim Lâu sau 50 tuổi.(Tính từ 50 trở đi). Khấu quyết: Khẩu quyết: khôn – đoài – càn – khảm – cấn – chấn – tốn – ly. Trung cung – khôn – đoài – càn – khảm – cấn – chấn – tốn – ly. Hoà thượng Thích Hoàn Thông

Hoà Thượng Thích Hoàn Thông có cách tính và lập luận thống nhất với tuyệt đại đa số cách sách và “thày”, Cụ chỉ nêu mọt điểm khác biệt là tuổi nhập “trung cung”. Cụ cho rằng nhập trung cung không chỉ có tuổi 50 mà còn các tuổi lẻ 5 cũng nên cho nhập trung cung. Cụ viết: “Đại, tiểu số đều liên tiết, thuận hành. Khi gặp số 5 và 50 thì nhập Trung cung (chỗ này, các nhà chỉ cho con số 50 mới nhập Trung cung còn các con số 5 khác thì đi luôn, nhưng xét kỹ thì đã gọi là cung Ngũ trung thì con số 5 phải nhập Trung cung mới đúng)”.

5.Cách tính đổi chỗ Tốn Khôn

Bắt đầu từ cung Cấn (Đây chính là cung của Địa Cầu đã được chứng minh trong cuốn “Tìm về cội nguồn Kinh Dịch”) tính là 10 tuổi. Kế tiếp mỗi cung là 1 năm đếm thuận theo chiều kim đồng hồ…

11 ở Chấn, 12 ở Khôn, 13 ở Ly, 14 ở Tốn, 15 ở Đoài; 16 ở Càn, 17 ở Khảm, 18 ở Cấn, 19 ở Chấn . Nhưng đến 20 tuổi lại bắt đầu từ cung Chấn và 21 ở Khôn……Tương tự như vậy đến 30 và 40. Nếu tuổi nào đếm rơi vào các cung màu xanh là phạm Kim Lâu.

Các loại Kim Lâu gồm có: * Kim Lâu thân – Hại bản mệnh.* Kim Lâu thê – Hại vợ.* Kim Lâu tử – Hại con.* Kim Lâu lục súc – Hại điền sản.

Nếu rơi vào cung 1 (Khảm) là bị “Kim lâu Thân” – ảnh hưởng đến bản thân vào cung 3 (Chấn) là bị “Kim lâu Thê” – ảnh hưởng đến vợ rơi vào cung 6 (Kiền) là bị “Kim lâu Tử ” – ảnh hưởng đến con cái rơi vào cung 8 (Cấn) là bị “Kim lâu Súc” -ảnh hưởng đến gia súc

Các sách nói về thuật trạch cát của Trung Quốc không thấy nói đến Kim Lâu. Kim Lâu chỉ có các cụ ta ngày xưa tính và coi trọng.

Những Cách Cục Trong Tử Vi Mang Ý Nghĩa Giàu Có Mới Nhất 2022

Cung Mệnh hay cung Điền, Tài có Tướng sáng tốt đẹp tọa thủ, có Lương giáp cung (Ấm tinh là tên riêng của Thiên Lương cũng giống như Thiên Ấn là tên riêng của Thiên Tướng). Bên giáp còn lại có Cự Môn hóa Lộc năm Tân.

Thiên phủ (hoặc Thiên Tướng) trong cung mệnh, Thiên Tướng (hoặc Thiên Phủ) trong cung Tài Bạch hoặc Quan Lộc hội chiếu, không bị sát tinh xung phá (Sao Thiên Tướng cần miếu vượng và không bị Tuần Triệt trấn đóng mới phù hợp).

Ưu điểm:phú quý song toàn, hưởng lộc dồi dào, được người đối diện kính trọng, quan hệ buôn bản hội tốt, được quý nhân phù trợ. Khuyết điểm: Cẩn thận tại chuyện tình cảm , hôn nhân (Phá Quân hoặc Tham Lang đóng trong cung Phu Thê). Hai sao Thiên Phủ và Thiên Tướng, một sao nằm trong cung Tài Bạch, một sao nằm trong cung Quan Lộc, cùng hợp chiếu cung mệnh, tại cung vị tam phương tứ chủ đạo của cung mệnh có Lộc Tồn, Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt gia hội mới thích hợp bí quyết cục này. nếu có tứ sát hoặc Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ gia hội là phá bí quyết. bí quyết cục này chủ về có tình cảm sâu sắc với người thân , bạn bè, trọng tình cảm.

2 Sao Thiên Phủ trấn mệnh tại cung Sửu (Mùi), sao Thiên tướng trong cung Tỵ (hoặc Hợi) chầu về, Sao Thiên Phủ trấn mệnh tại cung Mão (Dậu), sao Thiên Tướng trong cung Mùi (Sửu) chầu về, sao Thiên Phủ trấn mệnh tại cung Tỵ (Hợi), sao Thiên Tướng tại cung Dậu (Mão) chầu về.

Ca Quyết: Mệnh cung Phủ Tướng đắc cụ phùng Vô sát thân đương đãi thánh quân phú quý song toàn nhân cảnh ngưỡng Nguy nguy đức nghiệp mãn càn khôn

Nghĩa là: Cung mệnh gặp mặt được Phủ cùng Tướng Chẳng gặp sát tinh đợi vua hiền khô phú quý song toàn người ngưỡng vọng Công đức lấy lừng khắp nhân gian

trong kinh văn có câu: ” Thiên Phủ, Thiên Tướng là thần tước lộc, xuất sĩ làm quan, ắt là điềm hanh thông” Phủ Tướng gặp mặt tại cung mệnh, cả nhà ăn lộc”, Phủ Tướng triều viên là cực tốt, xuất sĩ làm quan rất tích cực lành” (Cũng cần không bị tứ sát , các sao bất lương sát xung phá), Cung Dần gặp Phủ Tướng được làm quan nhất phẩm, mệnh nữ gặp mặt sao Phủ, Tướng, con cái hiển đạt chồng vinh hoa”.

3. Kim Xán Quang Huy (Ánh sáng vàng của mặt trời xán lạn)

Cung Mệnh hay cung Điền, Tài an trong Ngọ, có Nhật tọa thủ, lại gặp gỡ các sao Lộc Tồn, Hóa Khoa, Hóa Quyền, Hóa Lộc, Tả Phụ, Hữu Bật, Văn Xương, Văn gia hội là hợp bí quyết cục này. Lá số gặp mặt cách cục này, chủ một đời cực hiển quý, phú quý. nếu không gặp Xương, Khúc, Phụ, Bật hoặc gặp gỡ Không, Kiếp sẽ bị giảm tốt. Người sinh năm Canh, Tân sẽ được giàu sang song toàn, tiếp theo là người sinh năm Giáp, Quý, Đinh, Kỷ.

Kinh văn có đoạn: ” Thái dương tại cung Ngọ là ” Nhật lệ trung thiên” (Mặt trời giữa trời), hiển quý có quyền lực, phú quý nhất nước, ” Cự Môn, Thái Dương củng chiếu là bí quyết cục rất tốt”.

Cung Mệnh hay cung Điền, Tài an tại Sửu có Tham, Vũ tọa thủ đồng cung. Hay tại Mùi có Phủ tọa thủ, có Nhật, Nguyệt giáp cung. (Tài tinh là tên riêng của Vũ Khúc vì Vũ Khúc chủ tiền bạc).

6 Tài Lộc giáp Mã (Tài tinh , Lộc tinh giáp với Thiên Mã)

Sao Thiên Mã đóng tại cung mệnh ở hai cung bên cạnh có Vũ Khúc , Hóa Lộc kèm mệnh. nếu như cung mệnh đóng tại Trường Sinh hoặc Đế Vượng lại càng tốt đẹp. Lá số có bí quyết cục này phần nhiều đều ham đầu cơ bán buôn, dám mạo hiểm, không ngại khó, nên chủ về nghèo trước sướng sau, nhưng không được sang hiển. nếu như cung mệnh trong Trường Sinh, Đế Vượng cung tam phương tứ chủ đạo có cát tinh gia hội, mới có thể trở nên cự phú. nếu không gặp mặt Tả, Hữu, Xương, Khúc vẫn là mệnh bình thường hay. có những hoàn cảnh cụ thể như sau:

1. Sao Thái Dương, Thiên Mã trấn mệnh tại cung Tỵ hoặc Hợi nếu sinh năm Quý sao Phá Quân tại cung Phụ Mẫu hóa Lộc, cùng với sao Vũ Khúc tại cung huynh đệ kèm hai bên cung mệnh. 2 Sao Thiên Đồng, Thiên Mã trấn mệnh tại cung Tỵ hoặc Hợi nếu sinh năm Quý, sao Phá Quân tại cung huynh đệ hóa Lộc, cùng với sao Vũ Khúc trong cung Phụ Mẫu kèm hai bên cung mệnh.

Tức Lộc Tồn, Hóa Lộc nằm ở hai bên cung mệnh, gồm các trường hợp chi tiết sau đây: – Người sinh năm Giáp, sao Thiên Lương, Đà La trấn mệnh trong Sửu, cung Dần có Lộc Tồn và cung Tý có Liêm Trinh hóa Lộc kèm hai bên cung Sửu (Đây cũng cùng lúc đó là cách cục Nhật Nguyệt tịnh minh, Tọa quý hướng quý). – Người sinh năm Ất, sao Thất Sát, Kình Dương trấn mệnh trong cung Thìn, cung Mão có Lộc Tồn và cung Tỵ có Thiên Cơ hóa Lộc kèm hai bên cung Thìn. – Người sinh năm Bính, sao Tham Lang, Kình dương trấn mệnh trong cung Ngọ, cung Tỵ có Lộc Tồn , cung Mùi có Thiên Đồng hóa Lộc kèm hai bên cung Ngọ (Đây cũng là bí quyết cục Mã đầu đới tiễn). – Người sinh năm Mậu, sao Thiên Đồng, Thái Âm, Kình dường trấn mệnh tại cung Ngọ, cung Tỵ có Lộc Tồn, cung Mùi có Tham Lang hóa Lộc kèm hai bên cung Ngọ (Đây cũng là cách Mã đầu đới tiễn). – Người sinh năm Tân, sao Tham Lang, Kình dương trấn mệnh tại cung Tuất, cung Dậu có Lộc Tồn, cung Hợi có Cự Môn hóa Lộc kèm hai bên cung Tuất, mệnh nữ đa tình. – Người sinh năm Quý, cung mệnh đóng trong Sửu mà không hề có chủ tinh, Lộc tồn tại Tý, Phá Quân tại Dần hóa Lộc kèm hai bên cung mệnh. – ngoài ra vẫn còn những trường hợp khác chưa nêu ra ở đây, trừ người sinh năm Giáp, Thiên Lương tại Sửu, và người sinh năm Ất, Thất Sát tại Dần cùng người sinh năm Bính, Mậu có bí quyết cục Mã đầu đới tiễn là tương đối giàu sang nhưng hoàn cảnh còn lại có khá là nhiều bất lợi, rất ít cát lợi. Kinh văn có viết: ” Hóa Lộc, Lộc Tồn kèm cung mệnh chủ về phú quý”.

Lộc Tồn và Hóa Lộc cùng trấn cung mệnh, lá số có cách cục này, một đời tài vận hanh thông, thành bậc cự phú, thường kiểm soát doanh nghiệp tư nhân, giám đốc doanh nghiệp, hoặc nhà kinh doanh bất động sản. nếu như không cũng là quan chức chủ đạo trị cấp cao, nhờ chủ đạo trị mà phát tài.

Ca Quyết: Lộc hợp uyên ương phúc khí cao Tư nhân văn vũ tất anh kiệt Đôi kim tích ngọc thân vinh quý Tước vị cao thiên ý tử bào

Nghĩa là: Lộc hợp thành đôi phúc dồi dào Văn tài võ lược xứng anh kiệt Ngọc vàng chồng chất thân vinh hiển Đai vàng áo tía chức quyền cao Kinh văn có viết: ” Hai Lộc gặp mặt nhau một đời phú quý”.

Cung vị tam phương tứ chủ đạo của cung mệnh có Lộc Tồn, Hóa Lộc gia hội.

Ca quyết: Tài quan nhị xứ dữ thiên di Song lộc phùng chi tối có ích Đức hợp càn khôn nhân kính trọng Thao thao giàu có thế hy kỳ

Nghĩa là: Tài quan hai cung cùng thiên di Hai Lộc gặp mặt nhau thật thích ứng Đức ngang trời đất ngừoi kính trọng giàu sang chất bất tỉnh khó ai bì

Kinh văn có viết: ” Hai Lộc gặp mặt nhau một đời phú quý”.

Nguồn: https://sonchu.vn/

Cách Trúng Số Trong Tử Vi

Tìm hiểu cách trúng số trong tử vi hay xem bói trúng số là như thế nào, những lá số tử vi trúng số, phong thủy trúng số và hạn trúng số trong tử vi.

Nhiều người vẫn thường tìm hiểu về các , đó có thể là một người chơi muốn tìm cơ hội để tăng vận may của mình hoặc đơn giản chỉ là muốn nghiên cứu về lá số tử vi của ai đó có cơ may trúng số hay không. Xem bói trúng số không phải là chuyện xa lạ, tuy nhiên không ai có thể khẳng định được đó là do “trùng hợp” hay sự “cao tay” của những thầy bà.

Theo lý giải của một số người am hiểu, thực chất có tồn tại việc lá số tử vi trúng số, nghĩa là dựa vào các cung, sao, vòng tuần hoàn trên lá số đó mà một người thầy nếu có đủ năng lực sẽ đọc ra được lá số tử vi của người này có khả năng trúng số hay gặp may mắn về tiền bạc hay không. Nếu bạn đang muốn tìm hiểu những cách trúng số trong tử vi để mong đổi vận cho mình thì điều này không hề đơn giản.

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi sẽ giới thiệu một số thông tin cơ bản về việc người ta phán đoán một lá số tử vi trúng số là dựa trên những yếu tố nào. Hi vọng sẽ phần nào giải đáp được câu hỏi mà bạn đang tìm kiếm.

Cách trúng số trong tử vi được phán đoán dựa trên yếu tố nào?

Thực tế có nhiều cách xem lá số tử vi để nhận biết khả năng trúng số của người nào đó. Tùy theo kinh nghiệm, trình độ và khả năng phán đoán của người xem. Để xem về tài vận, may mắn tiền bạc của một người có thể dựa trên một số yếu tố như: Đại hại, tiểu hạn, nguyệt hạn, mệnh hạn, hóa lộc, lộc tồn… Trong đó:

– Đại hạn: Là thời gian 10 năm (một thập niên) tính dựa trên Cục và tuổi Âm, Dương.

– Tiểu hạn: Là thời gian 1 năm ghi theo vòng chu vi địa bàn, mỗi cung ghi một tên, trai ghi theo chiều thuận, gái ghi theo chiều nghịch.

– Nguyệt hạn: Là thời gian trong 1 tháng.

– Nhật Hạn: là thời gian trong ngày.

– Thời Hạn: là các giờ trong 1 ngày.

– Một cách giải thích vô cùng quan trọng chính là dựa theo vòng Lộc Tồn. Vòng Lộc Tồn là một trong 3 vòng sao (Thái Tú, Lộc Tồn và Trường Sinh) được an riêng trên các cung của các lá số.

+ Vòng Thái Tuế (Quan trọng số 1) : Cho biết về tư cách con người và sự thành đạt theo ý nguyện dễ dàng hay không. Ngoài ra còn chỉ rõ về thời gian (đại vận) thành đạt đắc cách trong đời.

+ Vòng Lộc Tồn (Quan trọng số 2 ): Chỉ về lộc trời – Tiền của và hạnh phúc. Được lộc trời thì an hưởng, không được thì có thể có nhiều tiền mà không hợp cách hoặc không được lâu bền.

+ Vòng Trường Sinh (Quan trọng số 3) : Chỉ về sức khỏe, ai cũng biết rằng sức khỏe là yếu tố quan trọng trong đời, có công danh, tiền bạc nhiều mà không sức khỏe cũng vứt đi.

Nhiều người xem bói trúng số để tìm kiếm vận may cho mình

– Nguyên tắc để có được ảnh hưởng thiên lộc của Lộc Tồn: Nguyên tắc chính là cung tuổi phải ở thế tam hợp với cung có Lộc tồn. Cụ thể:

+ Người tuổi Giáp: Với những người tuổi Giáp, Lộc tồn tại Dần, mà 3 cung ở thế tam hợp là Dần, Ngọ, Tuất, vì vậy sẽ có 3 tuổi là Giáp Dần, Giáp Ngọ và Giáp Tuất sẽ được ảnh hưởng tốt nhất của Lộc tồn (các tuổi Giáp khác không được hưởng).

+ Người tuổi Ất: : Với những người tuổi Ất, Lộc tồn tại Mão, mà 3 tuổi có cung ở thế tam hợp với Lộc Tồn ở Mão là Ất Hợi, Ất Mão, Ất Mùi nên được ảnh hưởng tốt nhất của Lộc tồn (các tuổi Ất khác không được hưởng).

+ Người tuổi Bính: Với tuổi Bính, Lộc tồn ở Tị, thế tam hợp là Tị – Dậu – Sửu, nhưng lại không có tuổi bào là Bính Tị, Bính Dậu hay Bính Sửu vì vậy không có tuổi Bính nào có cung tuổi ở thế tam hợp với cung Tị có lộc tồn. Do đó tất cả các tuổi Bính đều không có ảnh hưởng Lộc tồn.

+ Người tuổi Canh: Lộc tồn ở Thân, mà tam hợp là Thân – Tý – Thìn nên sẽ có 3 tuổi là Canh Thân, Canh Tý và Canh Thìn được ảnh hưởng tốt nhất của Lộc tồn.

+ Các tuổi Đinh, Mậu, Kỷ, Nhâm, Quý tương tự như người tuổi Bính, không có cung tuổi ở thế tam hợp với cung lộc tồn nên không có ảnh hưởng thiên lộc của lộc tồn.

Tuy nhiên với những tuổi không được ảnh hưởng của Lộc tồn thì không có nghĩa là những tuổi này đều không có phúc hay nghèo, bởi vì còn nhiều cách khác để phán đoán và thay đổi vận mệnh.

Kiểm chứng về cách xem trên đã có nhiều lá số có cung Lộc Tồn đóng tại mệnh và đã trúng số độc đắc. Tuy nhiên nhiều người trong số họ không giữ được tiền lâu, chỉ trong vòng một thời gian ngắn là tiền của tiêu tan, dù người đó có mang tiền đi làm ăn chân chính cũng vẫn mất. Bởi theo lý giải của một số người có kinh nghiệm, đó là những người được hưởng Lộc tồn ở thế nghịch cảnh, không phải như là thiên lộc (tức là từ làm ăn chân chính, tự sức mà tiến lên, gây dựng sự nghiệp và tiền tài) nên không được bền.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Định Cục Tính Và An Vòng Tràng Sinh Trong Tử Vi – Học Tử Vi trên website Saigonhkphone.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!