Đề Xuất 2/2023 # Thế Đất “Hậu Sinh Phát Đế” Phát Vương Nhiều Đời Cho Con Cháu Họ Trần # Top 6 Like | Saigonhkphone.com

Đề Xuất 2/2023 # Thế Đất “Hậu Sinh Phát Đế” Phát Vương Nhiều Đời Cho Con Cháu Họ Trần # Top 6 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Thế Đất “Hậu Sinh Phát Đế” Phát Vương Nhiều Đời Cho Con Cháu Họ Trần mới nhất trên website Saigonhkphone.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thế đất “hậu sinh phát đế” phát vương nhiều đời cho con cháu họ Trần

✅ Phía trước gò ấy có 3 gò lớn là Tam thai, phía sau có 7 gò nhỏ là Thất tinh, xung quanh có đầm nước bao bọc, khi mặt trời soi tới thì mặt đầm sáng như gương phản chiếu, đối mặt với các cù lao nhỏ hình đẹp như những bông sen đang nở, đấy là một trong 27 kiểu đất hậu sinh phát đế”.

        Dân gian vẫn từng nói rằng: trước khi làm quan anh phải biết được mộ nhà anh đặt ở đâu, tổ tiên anh tích đức như thế nào. Ngày nay cũng vậy, câu nói đó dù hiểu theo phương diện huyền bí hay thực tế thì nó vẫn luôn luôn đúng.Tổ tiên có công đức, tích tụ công đức……nuôi dạy con cháu có tốt thì mới có ngày hiển vinh.

    

 

Thái Đường Lăng (Hưng Hà – Thái Bình) là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị vua đầu triều Trần: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông. Các hoàng hậu sau khi qua đời đều được quy về hợp táng tại các lăng mộ Thọ Lăng, Chiêu Lăng, Dự Lăng, Quy Đức Lăng.

        Vậy nên ở Việt Nam chúng ta, các dòng họ đều răn dạy con cháu với câu đối: “tổ tông công đức thiên niên thịnh – tử hiếu tôn hiền vạn đại vinh”. Lịch sử nhà Trần là một minh chứng cho điều đó.Sự phát tích của nhà Trần  trong lịch sử phong kiến kiến Việt Nam luôn luôn là một đề tài tốn rất nhiều giấy mực của các bậc trí giả. Cũng như các triều đại khác của lịch sử Việt Nam, khi phát tích đều mang những yếu tố liêu trai. Sử sách mà lịch sử ghi lại về nhà Trần cho đến nay vẫn còn nhiều điểm mang tính chất huyền bí, do ảnh hưởng bởi những truyền thuyết dân gian. Do vậy, sự phát tích và phát triển đến cực thịnh, rực rỡ của nha Tran vẫn là một đề tài hấp dẫn mà những nhà nghiên cứu đam mê bí ẩn về phong thủy đang đi tìm lời giải đáp.

Đền thờ các Vua Trần tại Hưng Hà – Thái Bình

 

        Lịch sử phát triển rực rỡ của nhà Trần:         Người đặt nền móng đầu tiên cho sự phát triển rực rỡ của nhà Trần chính là Trần Tự Khánh, người đã có công tập hợp lực lượng, đánh dẹp các xứ quân nổi loạn và hình thành lên thế lực cho họ Trần trong triều đình nhà Lý.Người trực tiếp gây dựng lên cơ nghiệp trăm năm rực sáng cho họ Trần và ảnh hưởng tới cục diện, sức mạnh của nhà nước Đại Việt khi đó lại chính là Thái sư Trần Thủ Độ. Ông là người đã ra sức ép buộc Huệ Tông bỏ ngôi lên làm Thái thượng hoàng, nhường ngôi cho Chiêu Thánh công chúa khi đó mới 7 tuổi, tức là Lý Chiêu Hoàng. Để đoạt hẳn ngôi báu về tay họ Trần, Trần Thủ Độ tìm cách đưa con của anh thứ Trần Thừa là Trần Cảnh, mới 8 tuổi, vào hầu Lý Chiêu Hoàng, rồi dàn xếp để Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng và nhường ngôi để chuyển ngai vàng sang họ Trần vào cuối năm 1225. Thượng hoàng Huệ Tông đi tu, truất làm Huệ Quang đại sư, Trần Cảnh lên ngôi tức Thái Tông hoàng đế của triều Trần. Năm 1226 nhà Trần được thành lập và trải qua 12 đời vua với 175 năm trị vì (tính từ đời vua Trần Thái Tông đến vua Trần Thiếu Đế)

        Ngôi “mộ tổ” họ Trần được chôn cất đúng vào long mạch và kết phát mạnh mẽ nên con cháu  

Vùng Đất Phát Đế Vương Nổi Tiếng Việt Nam

Nói đến đất Đế Vương phải nói đến vùng đất Thanh Hóa và Cao Bằng, nếu Thanh Hóa được xem là “đất vua, nhà chúa” hay “Đế vương chung hội” bởi rất nhiều vua và chúa trong lịch sử đều phát tích từ vùng đất này, thì Cao Bằng là nơi Đế Vương ẩn náu.

Những nhân vật xuất thân nhờ “đất vua” này có thể kể đến như Bà Triệu (huyện Yên Định, Thanh Hóa), “vua không ngai” Dương Đình Nghệ (huyện Thiệu Hóa, Thanh Hóa), Lê Hoàn (tức vua Lê Đại Hành), Hồ Quý Ly (Đại Lai, Thanh Hóa), Lê Lợi, nhà Nguyễn (Hà Trung, Thanh Hóa), chúa Trịnh.

Đỉnh Ngàn Nưa linh thiêng

Núi Nưa là dãy núi đi qua 3 huyện Triệu Sơn, Nông Cống, Như Thanh thuộc tỉnh Thanh Hóa.

Sách Đại Nam nhất thống chí có chép rằng: “Núi Nưa tên chữ là Na Sơn, mạch núi từ Phủ Thọ Xuân kéo đến chạy dài vài ba mươi dặm, đến địa phận Tổng Cổ Định thì nối vọi lên nhiều ngọn, ngọn cao nhất là núi Nưa”.

Theo tài liệu khoa học, quần thể Núi Nưa có mạch núi bắt nguồn từ dải Trường Sơn, vươn về phía biển theo hướng Tây Bắc – Đông Nam; có hàng ngàn ngọn núi lớn nhỏ trùng điệp phân bổ đều khắp trên diện tích 55 km2, xung quanh là 99 ngọn núi tựa như voi phục chầu về đỉnh, nên người dân gọi là Ngàn Nưa.

Trên đỉnh núi cao nhất Ngàn Nưa, có sơn cao thủy tụ, là nơi linh khí thiêng giữa Trời – Đất hội tụ, giao hòa. Nơi đây vào năm 248 Bà Triệu cùng hàng ngàn tráng sĩ Cửu Chân mài gươm luyện võ chống lại ách đô hộ của quân Ngô, nơi đây chính là căn cứ đầu tiên của cuộc khởi nghĩa Bà Triệu.

Nhiều ẩn sĩ, danh nhân từ xưa đến nay đều có viết về ngọn núi này, trong dân gian vẫn lưu truyền câu: “Na Sơn nhất phiến, nhất hộ thiên hạ biến!” nghĩa là “một tiếng hô ở núi Nưa chuyển cả thiên hạ!”.

Đây được xem là nơi phát tích của triều đại nhà Lê, trong cuốn “Đại Việt sử ký toàn thư” có mô tả rằng: Ông tổ ba đời của vua Lê Lợi tên húy là Hối, một hôm đi dạo chơi đến vùng núi Lam Sơn chợt thấy có đàn chim đông đúc đang bay lượn như thể núi Lam Sơn có một lực thu hút vô hình, có sức thu phục nhân tâm nhiều như chim về tổ, bèn nói: “đây hẳn là chỗ đất tốt” và quyết định “dời nhà đến ở đấy”.

Người Việt có câu “đất lành chim đậu”, hình ảnh đàn chim đông đúc bay lượn dấu hiệu vùng đất lành. Sau khi cụ Hối dời nhà về Lam Sơn thì 3 năm sau đã gây dựng được sản nghiệp lớn và làm quận trưởng một phương, trong nhà có cả ngàn gia đinh.

Đến lúc Lê Lợi được sinh ra đã “thiên tư tuấn tú khác thường, thần sắc tinh anh kỳ vĩ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, trên vai có nốt ruồi son, tiếng nói như chuông, dáng đi tựa rồng, bước tới như hổ, kẻ thức giả đều biết vua là bậc phi thường” ( Đại Việt sử ký toàn thư).

Lê Lợi được một nhân vật kỳ bí cho biết huyệt đất phát vương ở Chiêu Nghi, điều này được ghi chép lại trong cuốn “Lam Sơn thực lục” như sau:

“Khi ấy nhà vua (tức Lê Lợi) sai người nhà cày ruộng ở xứ Phật Hoàng động Chiêu Nghi. Chợt thấy một nhà sư già, mặc áo trắng, từ thôn Đức Tề đi ra, thở dài mà rằng:

– Quý hoá thay phiến đất này! Không có ai đáng dặn!

Người nhà thấy thế, chạy về thưa rõ với nhà vua, nhà vua liền đuổi theo tìm hỏi chuyện đó. Có người báo rằng:

Nhà vua vội đi theo đến trại Quần Đội, huyện Cổ lôi, (tức huyện Lôi Dương ngày nay) thấy một cái thẻ tre, đề chữ rằng:

Thiên đức thụ mệnh. Tuế trung tứ thập. Số chi dĩ định. Tích tai vị cập.

Đức trời chịu mệnh. Tuổi giữa bốn mươi! Số kia đã định. Chưa tới … tiếc thay!

Nhà vua thấy chữ đề mừng lắm, lại vội vàng đi theo. Khi ấy có rồng vàng che cho nhà vua! Bỗng nhà sư bảo nhà vua rằng:

– Tôi từ bên Lào xuống đây, họ Trịnh, tên là sư núi Đá trắng. Hôm thấy ông khí tượng khác thường tất có thể làm nên việc lớn!

Nhà vua quỳ xuống thưa rằng:

– Mạch đất ở miền đệ tử, tôi sang hèn ra thế nào xin thầy bảo rõ cho?

– Xứ Phật hoàng thuộc động Chiêu Nghi, có một khu đất chừng nửa sào, hình như quả quốc ấn. Phía tả có núi Thái Thất, núi Chí Linh (ở miền Lảo Mang); bên trong có đồi đất Bạn Tiên. Lấy Thiên Sơn làm án (ở xã An Khoái). Phía trước có nước Long Sơn, bên trong có nước Long Hồ là chỗ xoáy trôn ốc (ở thôn Như Ứng). Phía hữu nước vòng quanh tay Hổ. Bên ngoài núi xâu chuỗi hạt trai.

Con trai sang không thể nói được nhưng con gái phiền có chuyện thất tiết. Tôi sợ con cháu ông về sau, có thế phân cư. Ngôi vua có lúc Trung Hưng. Mệnh trời có thể biết vậy. Nếu thầy giỏi biết láng lại, thì trung hưng được năm trăm năm.

Nhà sư nói rồi, nhà vua liền đem di cốt đức Hoàng khảo táng vào chỗ ấy. Tới giờ Dần, về đến thôn Hạ Dao Xá nhà sư bèn hóa bay lên trời! Nhân lập chỗ ấy làm điện Du Tiên. Còn động Chiêu Nghi thì làm am nhỏ (tức là nơi một Phật hoàng). Đó là gốc của sự phát tích vậy”.

Về sự việc này Lê Qúy Đôn có viết ngắn gọn trong “Đại Việt thông sử” rằng: “Khi vua làm phụ đạo ở Khả Lam, được hồn sư ông mặc áo trắng hiển hiện chỉ cho ngôi huyệt phát đế vương ở động Chiêu Nghi”.

Lê Lợi đưa thi hài của cha chôn vào đất này. Sau này khi Lê Lợi khởi binh chống lại quân Minh, nhưng bị một người chỉ điểm cho quân Minh biết ngôi mộ này, quân Minh sai người khai quật lên nhằm ép Lê Lợi đầu hàng.

Lê Lợi sai 14 thuộc hạ thân tín là Trịnh Khả, Bùi Bị. Trương Lôi, Lê Nanh, Võ Uy, Bùi Quốc Hưng, Doãn Nỗ, Lê Liễu, Lê Nhữ Lãm, Lê Khả Lãng, Lê Xa Lôi, Trịnh Võ, Lưu Trung và Trần Dĩ đi đến doanh trại của giặc lấy lại hài cốt của cha mình. Những người này đội cỏ bơi xuôi theo dòng nước, từ thượng lưu xuống, nhân lúc giặc Minh sơ hở đã lấy trộm lại được hài cốt. Lê Lợi bèn chôn lại như cũ.

Sau 10 năm nổi dậy chống quân Minh, năm 1428 Lê Lợi lên ngôi Vua lập ra nhà hậu Lê. Kéo dài đến năm 1789. Sau này dù đến đời chúa nào, hay các cuộc khởi nghĩa nổ ra thì hầu hết đều mang danh “phò Lê” để danh chính ngôn thuận mà lấy lòng thiên hạ.

Nằm ở phía nam sông Mã , Dãy núi Đông Sơn – Hàm Rồng bắt nguồn từ làng Dương Xá huyện Thiệu Hóa chạy men theo sông Mã uốn lượn thành 99 ngọn núi hình rồng. Phần cuối nhô lên một ngọn tựa như đầu rồng nên gọi là Hàm Rồng, ở đó có động Long Quang (mắt rồng), núi sát bờ sông, trên bờ có mỏm đá dô ra như hình mũi rồng, cho nên gọi là Long tị.

Sách “Đại Nam nhất thống chí” ghi chép địa thế nơi đây là ” “A núi này cao và đẹp trông ra sông Định Minh, lên cao trông xa thấy nước trời một màu sắc thật là giai cảnh”.

Từ đuôi Rồng đi lên, ngọn Ngũ Hoa Phong hình năm bông sen chụm chung một gốc cắm xuống đầm lầy. Ngọn Phù Thi Sơn trông giống một người phụ nữ đang nằm ngủ đầu gối vào thân rồng, núi mẹ, núi con tròn như quả trứng. Ngọn Tả Ao trông giống người đàn ông đang nằm vắt chân chữ ngũ, đầu quay về hướng Đông. Ở sát cạnh ngọn con Mèo đang trong tư thế rình mồi, núi Cánh Tiên có 3 ngọn vút lên cao tạo thành mỏm Ba Hiệu, rồi núi Con Cá, Con Phượng, núi Đồng Thông, núi con Voi…

Tương truyền khi Cao Biền đi qua Hàm Rồng thấy đất nơi đây rất quý, có thể phát Vương, liền đưa hài cốt của cha chôn vào huyệt Hàm Rồng mong sẽ phát Vương ở phương nam.

Thế nhưng xương cốt cứ bị huyệt núi đùn ra, không nhận, dù đã cố đưa vào nhưng vẫn bị đùn ra như thế. Cao Biền biết đây là long mạch rất mạnh nên càng quý, vì thế mà quyết làm đến cùng, nên tán xương nhỏ để tung vào sườn núi. Nhưng vừa tung lên thì có muôn vàn con chim nhỏ cùng bay lên vỗ cánh vù vù làm xương cốt bay tứ tán. Cao Biền chỉ còn biết than linh khí nước nam quá mạnh và linh thiêng, không thể cưỡng cầu

Cao Bằng: Vùng đất Đế Vương ẩn náu

Nếu Thanh Hóa được xem là vùng đất phát tích của Vua, Chúa, thì Cao Bằng được xem là nơi Đế Vương ẩn náu.

Thời nhà mạc, khi vận nước rối bời, vua Mạc Mậu Hợp đến hỏi Nguyễn Bỉnh Khiêm về thế cuộc, Trạnh Trình đã đáp rằng “Ngày sau nước có việc, đất Cao Bằng tuy nhỏ, cũng giữ được phúc đến vài đời”. 7 năm sau vua Mạc bị quân Trịnh đánh bật khỏi Thăng Long, nhớ lời dặn cụ Trạng liền về đất Cao Bằng, quả nhiên giữ thêm được 96 năm nữa.

Từ đó Cao Bằng được xem là đất dung thân, ẩn náu của các bậc Đế Vương. Xưa kia khi Cao Biền được lệnh trấn yểm các vùng đất quý của nước Việt, đã xây thành Đại La (tức Thăng Long sau này) và thành Nà Lữ ở Cao Bằng. Sau này người Việt đã tìm cách hóa giải cách trấn yểm của Cao Biền, Đến nay di tích thành Nà Lữ vẫn còn ở làng Nà Lữ, xã Hoàng Tung, huyện Hòa An. Khi nhà Mạc chạy về Cao Bằng đã chiếm Nà Lữ và xây thành đá trên núi để phòng ngự

Năm 1052 thủ lĩnh người Tráng (người Tày, Nùng) ở Cao Bằng là Nùng Trí Cao tự xưng là Nhân Huệ Hoàng Đế, đặt quốc hiệu là Đại Nam đưa quân sang tấn công bên đất Tống.

Đến nay Cao Bằng được xem là nơi “tụ khí tàng phong” rất tốt đẹp cùng nhiều danh lam thắng như thác Bản Giốc, thác Nặm Trá, núi Mắt Thần tạo ra nhiều sinh khí cho vùng đất này.

Danh Sách Huyệt Phát Đế Vương Và Công Hầu

Cao Biền (821 – 887), người U Châu (Bắc Kinh ngày nay), là tướng nhà Đường, trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, được Vua Đường Ý Tông sai sang Giao Châu làm Tiết Độ Sứ. Trước khi đi, quan xem thiên văn nhìn thấy bao vì tinh tú đều chầu về Cổ Pháp đã bẩm báo lên vua. Vua Đường lo lắng về linh khí nước Nam quá vượng, dặn riêng với Cao Biền rằng: “Trưng Thị là hai người đàn bà mà làm rung chuyển cả cơ nghiệp nhà Đông Hán; rồi lại Triệu Ẩu, Lý Bôn … Làm cho ta vất vả lắm mới dẹp được. Nay trẫm thấy linh khí An Nam quá thịnh, e sau có biến. Khanh đến đó trước bình giặc Nam Chiếu, sau tìm cách trấn yểm linh khí An Nam, đi và vẽ bản đồ về cho trẫm”.

Vì thế, Cao Biền đi xem hình thế núi sông, viết sách: “Cao Biền địa lý Tấu thư kiểu tự” nói đến 632 huyệt chính cùng 1517 huyệt bàng.

Hà Đông: 81 chính, 246 bàng

Sơn Tây : 36 chính, 85 bàng

Vĩnh yên, Phúc yên, Phú thọ : 65 chính, 155 bàng

Hải Dương, Hưng Yên, Kiến An : 183 chính, 483 bàng

Gia Lâm, Bắc ninh, Đáp cầu, Bắc giang, Lạng sơn : 134 chính, 223 bàng

Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình : 133 chính, 325 bàng.

Ví dụ phần đầu đề cập đến Hà Đông (Hà Tây) trong đó có 81 huyệt chính và 246 huyệt bàng.

Huyện Thanh Oai: 9 chính; 26 bàng

Chương Đức (Chương Mỹ và Mỹ Đức): 11 chính; 34 bàng

Sơn Minh (ứng Hoà): 9 chính; 26 bàng

Hoài An: 6 chính; 19 bàng

Thanh Trì: 11 chính; 41 bàng

Thường Tín: 11 chính; 41 bàng

Phú Xuyên: 7 chính; 20 bàng

Từ Liêm: 11 chính; 34 bàng

Đan Phượng; 5 chính; 13 bàng

Cộng: 81 chính; 246 bàng

(Quý vị muốn biết rõ chi tiết hơn vui lòng liên hệ tư vấn)

Từ đất Ninh Bình trở ra, tổng cộng có hơn 2000 ngôi đất quý phát ra Anh hùng hào kiệt, để dâng lên vua Đường. Sau này, Vua Lê Lợi thu thành Đông Quan, bắt được Hoàng Phúc và sách; biết được vua Minh sai Hoàng Phúc xét duyệt và trấn yểm nốt những ngôi đất quý theo sách của Biền.

Ngoài tập Cao Biền địa lý tấu thư kiểu tự, Cao Biền còn một bản tấu nữa về phong thủy là Cao Biền tấu thư cửu long kinh. Bản tấu này đề cập đến 27 ngôi đại địa có thể phát đến đế vương ở nước ta. Trong 27 ngôi đất này có những ngôi đã kết phát rực rỡ như ngôi đất ở Tức Mặc – Nam Định đã tạo nên một Trần triều hiển hách võ công hay ngôi đất ở Cổ Pháp kết phát ra triều Lý.

Qua đó ta thấy đất Việt quả thật là nhiều quý địa. Chỉ tính từ Ninh Bình trở ra mà đã có tới 27 ngôi đất kết Đế vương, hơn 2000 ngôi kết công hầu khanh tướng. Ngày nay lãnh thổ nước ta đã vượt qua Ninh Bình rất xa vào phía Nam với một đại cán long nữa là dãy Trường Sơn thì hẳn là phải thêm hàng ngàn ngôi đất quý nữa.

Quý vị liên hệ: 0817 688 886 để được tư vấn cụ thể hơn.

Cách Chọn Hướng Và Thế Đất Xây Nhà Thờ Họ Hợp Phong Thủy Giúp Gia Đình “Phát Tài, Phát Lộc”

Cách chọn hướng xây nhà thờ họ hợp phong thủy giúp “phát tài, phát lộc”

Có hai yếu tố phong thủy phải luôn được quan tâm khi chọn đất xây dựng nhà thờ họ là hướng đất và thế đất.

– Về hướng đất

Hướng đất được chọn để xây nhà thờ họ thường là hướng Nam.

Theo Tiên thiên bát quái, phía Nam có tượng là quẻ Càn tượng trưng cho trời, vưa,…Nên đây còn được coi là hướng của “bậc đế vương”. Còn theo Hậu thiên bát quái, hướng Nam lại có tượng là quẻ Ly biểu trưng cho ánh sáng và lửa. Các bậc đế vương xưa thường “tọa Bắc nhìn Nam”, tức là tựa lưng về Bắc hướng mặt về Nam, để nhìn về phía ánh sáng với mong muốn sẽ anh minh để cai trị thiên hạ. Vì vậy, hướng Nam thường gắn với vận mệnh cao quý, phát đạt và quyền uy. Căn nhà thờ họ xây theo thế này cũng được coi là đại cát đại lợi, giúp gia chủ có nhiều may mắn, tài lộc và bình an.

Mặc dù hướng Nam là hướng tốt nhất để xây nhà thờ họ, nhưng không phải ai cũng hợp với hướng này. Theo Bát trạch, chỉ có người mệnh Đông tứ trạch là hợp với hướng Nam, còn những người mệnh Tây tứ trạch lại khá xung khắc. Tuy vậy, người thuộc mệnh Tây tứ trạch vẫn có thể xây nhà thờ họ hướng Nam kết hợp với sử dụng những đồ vật phong thủy để hóa giải.

Trên thực tế, vậy chọn hướng Nam để xây nhà cũng không phải dễ dàng vì có thể vướng phải vị trí của mảnh đất.Vì vậy chỉ nên tâm niệm dùng hướng chính Nam làm nguyên tắc, còn hướng nhà có thể hơi nghiêng về hướng Đông hoặc hướng Tây cũng không có trở ngại gì. Nếu nhà thờ họ không có cách nào để xây theo hướng Nam, thì cần phải lắp nhiều cửa sổ ở hướng Nam để tăng thêm ánh sáng và khí ấm.

Tuy nhiên, quan niệm chọn hướng xây nhà thờ họ hiện nay cũng không còn quá phức tạp và cổ hủ. Nếu nhà hướng Nam mà lại vào thế đất xấu thì cũng có thể chọn xây nhà hướng khác. Thế đất chính là yếu tố phong thủy quan trọng khác để lựa chọn khi xây dựng nhà thờ họ.

– Về thế đất

Thế đất xây nhà thờ họ tốt nhất theo quan niệm của người Việt phải là vị trí có Long mạch. Đây được côi là nơi khí hội tụ, điểm giao nhau giữa Chu Tước của phía Nam, Thanh Long ở phía Đông, Huyền Vũ ở phía Bắc và Bạch Hổ ở phía Tây. Nền đất phía sau là Huyền Vũ phải cao hơn nền Chu Tước phía trước, nền đất Thanh Long bên trái phải cao hơn nền Bạch Hổ bên phải của nhà thờ họ.

Thế đất cũng là yếu tố quan trọng trong xây dựng nhà thờ họ

Chu Tước là biểu tượng của hướng Nam, mùa hè, màu đỏ và khí dương. Những vùng khí hậu ấm áp thường có nhiều chim hơn, vì vậy đây là lý do vì sao thần điểu này lại được đặt cho phía Nam. Thế Chu Tước phải thấp hơn các thế còn lại nên sẽ thường là mặt trước của nhà thờ họ. Nếu nền đất phía trước không thấp lắm thì có thể dùng nguồn nước để thay thế vì đây cũng là biểu trưng khác của Chu Tước.

Huyền vũ tượng trưng cho hướng Bắc, mùa đông, màu đen và khí âm. Huyền vũ cũng là thế đất cao nhất của ngôi nhà thờ họ.

Hướng Tây của Ấn Độ là nơi mà loài hổ được coi là động vật bản địa và có rất nhiều. Bạch Hổ tượng trưng cho hướng tây, mùa thu, màu trắng và khí âm. Về mặt địa hình, thế Bạch Hổ thường phải thấp hơn thế Thanh Long ở phía Đông.

Về mặt khí tượng học, rồng xanh ứng với chòm sao Thần Nông. Thanh Long tượng trưng cho hướng Đông, mùa xuân, màu xanh và khí dương. Thế Thanh Long cũng phải cao hơn thế Bạch Hổ ở hướng Tây.

Kết hợp lại, Chu Tước, Huyền Vũ, Thanh Long , Bạch Hổ tạo nên Long mạch của mảnh đất. Theo tưởng tượng, thế đất xây nhà thờ họ giống như một chiếc ghế bành. Thế rồng và hố tượng trưng cho hai tay vịn của ghế, thế rùa tượng trung cho lưng ghế và thế chim tượng trưng cho chiếc ghế con dùng để chân. Vị trí đẹp nhất để xây nhà thờ họ nằm ở giữa, đó là mặt ghế. Theo phong thủy, thế rồng và hổ bảo vệ Long mạch giống như đôi bàn tay bảo vệ bạn.

– Quy mô ngôi nhà bên nào to và đồ sộ hơn thì phía bên đó là Thanh Long.

– Vị trí của từng ngôi nhà nào gần với nhà bạn thì là mạnh hơn.

– Mật độ nhà bên nào nhiêu nhà hơn thì là bên đó mạnh hơn.

Ngôi nhà đỡ phía sau nhà thờ họ có thể đem đến sự bảo vệ an toàn cho ngôi nhà, nhưng nó không được lấn át nhà thờ họ cùa bạn. Ngoài ra, ngôi nhà đỡ sau này không được cản ánh nắng mặt trời. Cây cối, hàng rào, bụi cây hay thậm chí là tường rào là những vật có thể thay thế cho các thế đất và nhà để thực hiện vai trò của “tứ linh”. Nếu nhà thờ họ sau lưng là mảnh đất trống thì có thể trồng vườn cây hay hàng rào, tường rào để bảo vệ phía sau lưng.

Để được tư vấn thiết kế và xây dựng nhà thờ họ hợp phong thủy giúp phát tài, phát lộc, liên hệ :

Đồ gỗ Nội thất Nguyễn Tuân – Đồ gỗ Thạch Thất

Showroom: 196 đường Láng -Đống Đa- Hà Nội

Xưởng sản xuấ t: Làng nghề truyền thống Canh Nậu – Thạch Thất – Hà Nội

Hotline: 0979.67.11.83 / 0916.586.583

Email: gonguyentuan@gmail.com

Bạn đang đọc nội dung bài viết Thế Đất “Hậu Sinh Phát Đế” Phát Vương Nhiều Đời Cho Con Cháu Họ Trần trên website Saigonhkphone.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!