Top 4 # Xem Nhiều Nhất Hoa Giai Phong Thuy Cay To Truoc Nha Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Saigonhkphone.com

Phong Thuy, Xem Phong Thuy, Phong Thuy Nha

Kết quả tra cứu hướng nhà!

Với mỗi két sắt, chủ nhân nên đặt một bộ Chiêu Tài và Giữ tiền chống hao tài, bao gồm một ông Tỳ Hưu, một Thiềm Thừ và đồng tiền hoa mai, hoặc một Bảo khố sẽ mang lại nhiều tài lộc và vượng khí cho gia trạch.

Thỉnh các linh vật Phong Thủy Cát Tường này sẽ mang lại nhiều may mắn và Tài lộc cho gia chủ

Cách dùng Phong Thủy đúng & đủ giúp mua bán nhà đất NHANH & Thuận Lợi

Ban thờ và bếp là những không gian cần được đặt đúng theo Phong thủy, nếu đặt đúng PHƯƠNG VỊ VÀ HƯỚNG thì không những đem đến sự Hưng Vượng của 1 gia đình hoặc 1 dòng họ mà còn giúp hóa giải hướng nhà xấu

Chiêu tài Lộc và kích hoạt vận may trong công danh quan lộc sự nghiệp kinh doanh, hóa giải thị phi, tăng uy lực và lợi thế đàm phán

Đeo trang sức Phong thủy mang lại nhiều sức khỏe, may mắn, bình an cho chủ nhân

Tháp Văn Xương thường được đặt trong nhà và cơ quan để cầu thi cử đỗ đạt, thăng quan tiến chức.

Với gần 20 năm kinh nghiệm tư vấn Phong thủy chuyên sâu cho Gia đình, Doanh nghiệp, Dự án, Phong Thủy Gia đã và đang được khách hàng khắp nơi tin tưởng sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của Phong Thủy Gia.

Các hoạt động chính của Phong Thủy Gia:

1, Xem – Tư vấn và đưa ra Giải Pháp Phong Thủy Toàn Diện cho Gia đình, Cơ quan, Dự án, Huyệt mộ…

Đặt các biểu tượng Phong thủy cát tường trong nhà, sẽ đón được nhiều điềm lành, may mắn và tránh những khí xấu, tà khí mang lại Bình An Vượng Đạt cho Gia chủ.

© 2017 Developer by chúng tôi

xem phong thủyxem phong thủy nhà

đá thạch anh,đá thạch anh vàng

quả cầu thạch anhquả cầu phong thủy

phong thủy nhà ởphong thủy bàn làm việc

phong thủy ban thờphong thủy bếp

phong thủy phòng ngủ

gương bát quái

tỳ hưu đá, tỳ hưu phong thủy

đá phong thủy

phong thủy luân

tháp văn xương

cửa lưới chống muỗi

cửa lưới chống côn trùng

cua luoi chong muoi

lưới muỗicửa lưới ngăn muỗilưới chống muỗicửa chống muỗi

lưới chống muỗi tự cuốncửa lưới chống muỗi tự cuốn

lưới chống muỗi inox

lưới chống chuột, cửa lưới chống chuột

cửa lưới chống muỗi

cua luoi chong muoi

cua luoi chong muoi tai ha noicửa lưới chống muỗi tại Hà Nội

sua cua luoi chong muoisửa cửa lưới chống muỗi

sua gian phoi thong minh, sửa giàn phơi thông minh

lưới inox, lưới inox hà nội, lưới inox chống muỗi

lưới inox đan

day inox, dây inox 304

lưới thép hàn

lưới thép hàn xây dựng

lưới thép tấm

Bếp gas

báo giá gas

bếp gas dương

Bếp gas âm

Máy hút mùi

bếp gas công nghiệp

bếp gas đôi

máy lọc nước

máy lọc nước Everpure

thay lõi lọc nước

bep tu, bếp từ

bếp điện từ

máy hút mùi

nồi chiên không dầu

máy lọc nước everpure

án gian thờ,bàn thờ đẹp, ban tho dep

tủ thờ chung cư,tủ thờ giá rẻ, bàn thờ chung cư

ban tho treo tuong,bàn thờ treo tường

bít tết ngonăn bít tết ở đâu ngon hà nội,bít tết hà nội,nhà hàng bít tết ngoncác quán bít tết ngon ở hà nộibít tết hà nội ở đâu ngonbít tết ngon tại hà nộithịt bít tết ngon

cửa lưới chống muỗi,lưới chống muỗi,rèm ngăn lạnh,rèm ngăn lạnhsửa cửa lưới chống muỗi

giàn phơi thông minh,giàn phơi quần áo,giàn phơi gắn tường,sửa giàn phơi thông minh

triệt lông tại hải dương,điều trị mụn tại hải dương,điêu khắc lông mày tại hải dương,nâng cơ trẻ hóa da tại hải dương

bếp từ,bếp điện từ,máy hút mùi,lò nướng,lò vi sóng,nồi chiên không dầu

đổi gas,báo giá gas,bình gas,gọi gas

Cách Hóa Giải Nhà Vệ Sinh Trên Phòng Ngủ (#1) · Issues · Morata92 / Cach Hoa Giai Nha Ve Sinh Tren Phong Ngu

Là nơi nghỉ ngơi và dành một phần ba cuộc đời để ngủ, phong ngủ khá quan trọng với mỗi người. Vì vậy, cần tạo một không gian phòng ngủ thoải mái, hợp phong thủy sẽ mang lại giấc ngủ ngon và tránh phạm những đại kỵ, không tốt cho gia chủ.

Luôn giữ nhà vệ sinh sạch sẽ

Bạn cần bố trí phòng ngủ và phòng vệ sinh trong theo một số nguyên tắc để tránh những đại kỵ ảnh hưởng đến vận mệnh hay có thể gặp những điều không tốt.

Sẽ là không tốt khi phòng ngủ dưới nhà vệ sinh bởi hung khí sẽ đi vào chính phòng ngủ bên dưới và tác động đến sức khỏe của người nằm. Nền nhà vệ sinh không để cao hơn phòng ngủ vì nước chảy xuống dưới làm kết cấu bên dưới ẩm, một thời gian lâu sau sẽ khiến phòng ngủ ẩm thấp, tạo cơ hội cho các bệnh về nội tiết phát sinh.

Nếu như vẫn phải bố trí nhà vệ sinh đặt trên phòng ngủ thì bạn tốt nhất hãy thiết kế kéo rộng khoảng cách với phòng ngủ để gia đình không gặp điều không may. Ngoài ra, bạn hãy thiết kế thêm cửa sổ cho nhà vệ sinh và một đường ống thông khí ra ngoài để giải phóng bớt uế khí, giảm đi âm khí thường tích tụ ở nhà vệ sinh và giúp điều hòa với luồng khí bên ngoài.

Những vị trí kiêng kỵ cần tránh khác khi bố trí nhà vệ sinh trong nhà là đặt ngay ở giữa trung tâm ngôi nhà vì đây là nơi trang trọng, đòi hỏi phải có sự cao ráo, sáng sủa. Việc đặt nhà vệ sinh ngay giữa ngôi nhà sẽ làm hỏng nội khí của nhà và tác động không tốt đến vận khí của gia đình.

Những chuyên gia phong thủy của Dịch vụ rao vặt mua bán nhà đất, bất động sản trực tuyến nhanh nhất khuyên không nên tránh lắp đặt cửa nhà vệ sinh đối diện cửa chính ra vào.

Nên thiết kế nhà vệ sinh hợp lý

Tránh đặt khu vệ sinh ngay cạnh bếp ăn hoặc tránh nằm ngủ dưới phòng vệ sinh: theo quan niệm phong thủy, cả hai điều này đều sẽ ảnh hưởng xấu đến người phụ nữ trong gia đình, có thể gặp tai họa hoặc mắc bệnh tật. Ngoài ra, theo ngũ hành thì Thủy khắc Hỏa, nên bếp cần tránh đặt gần khu chứa nước, bồn rửa hoặc nhà vệ sinh.

Những Giai Thoại Phong Thủy

Chào quý vị và các bạn !

Để những ai quan tâm tìm hiểu phong thủy trên trang này giải trí đôi phút trước khi nghiên cứu phần trung cấp của phong thủy Lạc Việt . Tôi sưu tầm những câu truyện phong thủy và đưa lên đây để mọi người cùng xem cho vui !

Trích từ :http://phunutoday.vn/blog-nguoi-noi-tieng

Những câu chuyện phong thủy lừng danh của Lưu Bá Ôn

(Thâm cung bí sử) – Tuy là một nhân vật có thực trong lịch sử, tuy nhiên, người ta lại biết tới Lưu Cơ – Lưu Bá Ôn chủ yếu qua các câu chuyện về phong thủy. Người ta nói rằng, bất cứ nơi đâu ở Trung Quốc có lưu truyền những truyền thuyết về Lưu Bá Ôn thì ở đó ắt có truyền thuyết về phong thủy. Có lẽ, chẳng phải ngẫu nhiên mà người ta lại gọi Lưu Bá Ôn là bậc tông sư về phong thủy…

Chuyện kể rằng, sau khi lên ngôi hoàng đế, cũng giống như những vị hoàng đế khác, muốn cho giang sơn do mình gây dựng có thể truyền cho con cháu ngàn vạn đời sau, Chu Nguyên Chương bèn phái Lưu Bá Ôn đi khắp nơi trong cả nước xem phong thủy, tìm mọi cách ngăn chặn xuất hiện những người “mệnh lớn”, có thể cướp đoạt thiên hạ của nhà họ Chu.

Lưu Bá Ôn nhận lệnh của Chu Nguyên Chương, lưng mang thần kiếm đi khắp Nam Bắc. Một khi nhìn thấy long mạch lập tức vung kiếm phá bỏ, trừ hậu họa cho hoàng thất họ Chu.

Một ngày, Lưu Bá Ôn đi tới Giang Trang ở chân núi Thạch Khanh, bỗng nhiên thấy từ dưới đất có một con trâu bằng đá đang chạy về phía Giang Trang. Lưu Bá Ôn liền bấm quẻ rồi đến buổi tối hôm đó xem tinh tượng, bỗng nhiên hét lên:

“Không ổn!” Theo tính toán của Lưu Bá Ôn, trong Giang Trang nhất định sẽ sinh ra một người có “mệnh lớn”, tương lai có thể tranh đoạt giang sơn của triều Minh. Để ngăn chặn việc xuất hiện này, Lưu Bá Ôn đã thi triển phép thuật, dùng bảo kiếm chặt con trâu đá làm ba khúc, phá đi phong thủy của Giang Trang.

Một khi phong thủy đã bị phá, người “mệnh lớn” sẽ không thể xuất hiện được nữa. Lưu Bá Ôn còn sợ con trâu đá sau khi bị giết sẽ hồi sinh nên lại dùng lại dùng pháp thuật đem ba khúc của con trâu vừa bị chặt chôn ở 3 nơi khác nhau.

Một lần khác, Lưu Bá Ôn tới vùng Tương Hồ. Lưu Bá Ôn từ lâu đã biết rằng, vùng Tương Hồ là nơi từng được thần tiên làm phép, vì thế, núi sông nơi đây đều có khí tiên. Lần này được chứng kiến tận mắt, quả nhiên không hề tầm thường.

Chân dung Lưu Bá Ôn – người có công rất lớn giúp Chu Nguyên Chương gây dựng nhà Minh.

Chỉ thấy, vùng Tương Hồ ba mặt đều có núi vây bọc, tổng cộng có 99 con suối chảy từ trên núi xuống, mỗi con suối đều ẩn vào trong các khe đá. 99 con suối này đều được tích lũy khí âm nhu nhiều năm bên cạnh khí cương dương của Tương Hồ.

Một khi suối và hồ tương giao, nhất định ngày sau sẽ xuất hiện bậc chân mệnh thiên tử. Tuy nhiên, dường như đây đã là địa thế do tự nhiên tạo ra, làm thế nào để phá được thế phong thủy này? Đây là một vấn đề hóc búa ngay cả với bậc tông sư như Lưu Bá Ôn.

Vì thế, Lưu Bá Ôn đã ở lại Tương Hồ, suy nghĩ các phá giải địa thế phong thủy này.

Một ngày, sau khi đã lao tâm khổ tứ nghĩ đủ mọi cách mà vẫn chưa nghĩ ra, Lưu Bá Ôn lang thang đi tới chân một quả núi, bất ngờ nhìn thấy một hòn đá. Đương lúc mệt mỏi, Lưu Bá Ôn thấy viên đá phẳng phiu bèn ngồi xuống nghỉ chân.

Nào ngờ vừa ngồi xuống thì sự mệt mỏi từ đâu kéo tới, Lưu Bá Ôn dần dần chìm vào giấc ngủ. Cũng chẳng biết Lưu Bá Ôn đã ngủ bao lâu, chỉ biết khi tỉnh lại Lưu Bá Ôn thấy rằng thanh kiếm mình đeo ở hông đã bị tuốt ra khỏi vỏ, mũi kiếm đang chúc xuống dưới đất bên dưới viên đá, ngay chỗ mũi kiếm nước đang phun ra.

Nước từ dưới đất như như những hạt châu báu bám lấy thanh kiếm mà nhảy lên mặt đất. Lưu Bá Ôn giật mình, thần kiếm làm sao tự động tuốt khỏi vỏ? Vì sao mũi kiếm lại chỉ đúng chỗ có mạch nước được? Nhìn kỹ lại, Lưu Bá Ôn chợt mừng thầm.

Hóa ra chỗ đầu thạch kiếm chọc xuống đất chính là chỗ mạch quan trọng nhất giữa hồ và suối. Chỉ cần phá bỏ được mạch nước quan trọng này, biến nó thành một con suối, cho người qua đường hoặc chim thú trong rừng uống thì linh khí của nó tự khắc sẽ biến mất.

Làm được như vậy thì nơi đây chỉ còn là một nơi danh lam thắng cảnh chứ không thể xuất hiện đế vương được nữa.

Nghĩ vậy, Lưu Bá Ôn bèn dùng kiếm thần của mình chém xuống đất nhiều nhất, mạch nước suối từ dưới đất phun lên. Lúc bấy giờ, vừa may có một người tiều phu từ đâu đi tới. Lưu Bá Ôn thấy vậy vừa uống nước từ dưới đất phun lên, vừa cố ý nói lớn:

“Nước ngon thật! Nước ngon thật!” Người tiều phu đang lúc khát  nước, nghe thấy Lưu Bá Ôn nói nước ngon bèn quỳ xuống bên cạnh, dùng tay vốc nước đang phun từ dưới lòng đất lên uống. Quả thật, nước vừa vào tới miệng đã thấy ngọt như mật, người cũng không còn thấy khát nữa.

Người tiều phu lúc này mới nhìn xung quanh tứ phía, thấy làm lạ, tự nói với mình: “Ta thường xuyên đi lại qua đoạn đường này mà trước nay chưa từng thấy con suối này. Không biết con suối này từ đâu mà ra?”

Lưu Bá Ôn đang đứng bên cạnh nói: “Con suối này tất có nguồn của nó, uống được nó tất có điều tốt!” Nói xong, Lưu Bá Ôn liền dùng thuật ẩn thân, biến mất trong chớp mắt.

Người tiều phu vừa thấy Lưu Bá Ôn đứng trước mặt mình nói chuyện, chỉ nhoáng một cái đã không còn thấy đâu nữa, cảm thấy rất kỳ quái. Chợt nghĩ lại, người tiều phu cảm thấy đã từng gặp người đàn ông kia ở đâu rồi.

Nghĩ một lát, người tiều phu reo lên, hóa ra là Lưu quân sư. Hóa ra, người tiều phu này là một quân sĩ đã giải ngũ về ở ẩn. Khi còn trong quân ngũ, ông ta đã từng gặp Lưu Bá Ôn. Nhớ lại câu nói của Lưu Bá Ôn rằng uống nước này tất có điều tốt, người tiều phu bèn bỏ bó củi trên lừng, tìm vật liệu dựng một căn lều ngay bên con suối rồi sống luôn ở đây.

Do thường xuyên uống nước từ con suối này, người tiều phu lúc nào cơ thể cũng tráng kiện, khuôn mặt hồng hào. Có người hỏi nguyên nhân vì sao ông có thể khỏe mạnh và trẻ lâu tới như vậy, người tiều phu đều nói là do ông uống nước ở con suối do Lưu Bá Ôn dùng kiếm thần tạo thành.

Không chỉ được giao nhiệm vụ phá thế phong thủy, đoạn long mạch để ngăn chặn việc xuất hiện thiên tử, tranh chấp thiên hạ với họ Chu, Lưu Bá Ôn còn được Chu Nguyên Chương tin tưởng giao cho nhiệm vụ cải tạo phong thủy để đem lại điều lợi cho sự cai trị của triều Minh.

Chuyện kể rằng, sau khi sửa sang song Bắc Kinh, nơi sau này được lựa chọn làm kinh đô triều Minh, Chu Lệ, khi đó vẫn còn là Yên Vương đã tiến hành tu sửa các lăng mộ. Kể từ lúc Chu Nguyên Chương lên ngôi đã lập tức cho sửa phần mộ.

Tuy nhiên, việc sửa  phần mộ trước hết phải chọn được nơi đặt mộ. Một hôm, Yên Vương nói với quân sư Lưu Bá Ôn rằng: “Ngươi hãy dẫn đường, chúng ta cùng đi tìm một nơi đặt mộ thật tốt”. Lưu Ba Ôn vừa nghe đã biết Yên Vương muốn tìm địa điểm để đặt hoàng lăng.

Nơi đặt hoàng lăng có can hệ tới vận mệnh của cả triều đại, do vậy phải là nơi có phong thủy thượng đẳng mới được. Nghĩ thế, Lưu Bá Ôn đã cùng với Yên Vương ra đi. Tuy nhiên, hai người từ Đông đi sang Tây, rồi lại từ Nam đi lên Bắc nhưng vẫn không chọn được địa điểm ưng ý.

Cuối cùng, hai người chọn đi từ Bắc xuống phía Tây. Đi một lúc thì tới Đông Trang, hai người nhìn thấy một cây óc chó và một ngọn núi đất vàng, phong cảnh khá đẹp. Yên Vương nói: “Nơi đây được đấy!” Lưu Bá Ôn nói: “Nơi đây chưa được!” Vì sao lại không được?

Lưu Bá Ôn chỉ tay về ngọn núi đất vàng phía trước mặt nói: “Điện hạ xem, đây là phần đất cao, chắc chắn là không thể có long mạch. Xây lăng tại nơi đây, đất nước có nguy cơ bị hủy hoại”. Yên Vương vừa nghe đến câu đất nước bị hủy hoại đã lắc đầu nói: “Không được. Vậy tìm một nơi khác”.

Hai người lại tiếp tục đi tới Tây Trang. Tới đây, Lưu Ba Ôn chỉ tay nói: “Điện hạ, ngài thử nhìn về hướng Bắc xem”. Hai người cùng nhìn về hướng Bắc, bỗng thấy ánh sáng phát ra. Yên Vương nói: “Nơi đây là mảnh đất tốt, thử tới gần xem thử ra sao”.

Hai người cùng tới nơi thì thấy nơi đây ba mặt đều có núi che chở, dựa vào phía Bắc quay mặt về phía Nam, là một nơi có địa thế cực đẹp. Yên Vương lúc này vui mừng ra mặt quay sang hỏi Lưu Bá Ôn: “Giờ thì được rồi chứ?”

Lưu Bá Ôn nói: “Không tệ, có thể nói là nơi đất tốt. Điện hạ từ đây nhìn về phía Nam thử, nơi đây phía bên trái có núi thanh long, bên phải có núi bạch hổ, tả thanh long, hữu bạch hổ, chỗ điện hạ đang đứng chính là ổ mà thanh long nằm đấy”.

Một chuyện khác lại kể rằng, Lưu Bá Ôn sau khi giúp Chu Nguyên Chương lập nên nhà Minh thì xin cáo quan về quê ở ẩn, nhằm tránh những đòn thù của Chu Nguyên Chương lẫn quan thừa tướng Hồ Duy Dung.

Để Hồ Duy Dung lẫn Chu Nguyên Chương không biết được hành tung của mình, Lưu Bá Ôn bèn cải trang làm đạo sĩ, bí mật rời khỏi nhà, ngao du thiên hạ, trở thành một đại sư phong thủy thần bí trong giang hồ.

Một lần, Lưu Bá Ôn đi tới Cửu Đàm núi La Phù. Người đi cùng ông là tướng quân Bành Oánh Ngọc trong trang phục một hòa thượng. Vì sao Lưu Bá Ôn lại tìm tới Cửu Đàm ở núi La Phù?

Hóa ra, chuyện là khi Lưu Bá Ôn dẫn quân nam chinh đã từng đi qua Cửu Đàm, nhận thấy nơi đây địa thế không tệ, tuy nhiên, nhân dân lại nghèo khó. Xem xét một hồi, Lưu Bá Ôn phát hiện ra rằng, mặc dù địa thế nơi đây tốt nhưng người dân vẫn nghèo là do nơi đây xuất hiện bố cục trấn phong thủy.

Lúc bấy giờ, do quân tình khẩn cấp, không tiện dừng lại lâu, Lưu Bá Ôn đã hứa với người dân ở Cửu Đàm rằng, đợi tới khi đất nước thống nhất sẽ quay trở lại đây giúp họ thay đổi bố cục trấn phong thủy kia để họ có thể thay đổi cuộc sống của mình.

Chính vì thế, sau khi cáo lão về quê, nhớ tới lời hẹn năm xưa, Lưu Bá Ôn đã quyết định quay trở lại Cửu Đàm.

Năm xưa khi hành quân qua Cửu Đàm, Lưu Bá Ôn đã từng xem xét nhiều lần địa hình, địa thế của Cửu Đàm. Phần lưng của Cửu Đàm dựa vào núi La Phù, mỗi năm lũ từ trên núi La Phù đều đổ xuống Cửu Đàm. Đây chính là bố cục đã trấn áp phong thủy của Cửu Đàm.

Vì vậy, Lưu Bá Ôn cho rằng, chỉ cần trị được lũ từ trên núi đổ xuống khu vực Cửu Đàm thì người dân có thể tránh được tai nạn hàng năm, từ đó có thể an cư lạc nghiệp.

Lưu Bá Ôn đã cùng người dân Cửu Đàm nắn dòng chảy của con suối thành theo hình chữ chi để giảm sức chảy của dòng nước khi có lũ về nhờ vậy, thay đổi luôn cả bố cục phong thủy bị trấn áp của Cửu Đàm. Từ đó về sau, người dân Cửu Đàm không còn phải chịu lũ quét hàng năm nữa.

Câu chuyện “Trăm mèo giữ cá” cũng ghi lại một truyền thuyết phong thủy rất thú vị về Lưu Bá Ôn. Chuyện kể rằng, ba anh em họ Du gồm Du Thông Hải, Du Thông Nguyên và Du Thông Uyên đều là những bộ tướng rất giỏi của Sào Hồ thủy quân Lý Bát Đầu.

Khi Chu Nguyên Chương dẫn binh chiếm Hòa Châu, Lý Bát Đầu bị Nguyên Đạt Tử ở Lô Châu đán úp nên muốn mượn quân của Chu Nguyên Chương để báo thù. Trong khi đó, Chu Nguyên Chương muốn mượn thuyền của Bát Đầu vượt sông tới Thái Bình Phủ, giải quyết vấn đề lương thảo.

Ba anh em họ Du dũng cảm thiện chiến, lập được nhiều chiến công. Trong đó công lao lớn nhất chính là người anh cả Du Thông Hải. Du Thông Hải tự là Bích Tuyền, đã theo Chu Nguyên Chương phá Hải Nha, đánh gục Ninh Quốc, đuổi Trần Hữu Lượng, bắt sống  Trương Sĩ Thành,… công trạng rất lớn, từng được phong làm Bình Chương Chính sự và nhiều chức vụ trọng yếu khác trong quân đội.

Tuy nhiên, trong trận Bình Giang, Du Thông Hải không may bị trúng tên mà chết. Khi Du Thông Hải chết, Chu Nguyên Chương ôm xác họ Du mà khóc, đồng thời nói với Lưu Bá Ôn và tướng quân Từ Đạt rằng: “Vừa mới bắt đầu cuộc chiến, Bích Tuyền đã chết khác gì ta mất một cánh tay! Mau mau thu quân, tổ chức tang lễ cho ông ta”.

Lúc bấy giờ, Lưu Bá Ôn và Từ Đạt cũng chảy nước mắt nói, khuyên rằng: “Bích Tuyền chết, thần cũng đau lòng, thiết nghĩ cũng nên tổ chức tang lễ. Chỉ là hiện tại không có thời gian, mong chúa công nên lấy xã tắc làm trọng, quân không thể thu, bính lính không thể rút lui được!”

Du Thông Nguyên và Du Thông Uyên cũng khóc lóc nói: “Ơn sâu của chúa công khiến anh em họ Du chúng tôi dù có tan xương nát thịt cũng không thể báo đáp cho hết được.

Khi cơ nghiệp sắp thành mà rút binh cũng không phải là mong muốn của anh trai chúng thần”. Mọi người đều khẩn khoản can gián, Chu Nguyên Chương nghe có lý, đành phải gạt nước mặt nói: “Được! quân sư, hãy nhớ cho kỹ, sau này nếu có phong thưởng thì Bích Tuyền sẽ là người đầu tiên”.

Sau này khi khởi nghĩa thành công, Chu Nguyên Chương lập nên nhà Minh, xưng làm hoàng đế đã tổ chức quốc tang cho Du Thông Hải, truy phong làm Quắc Quốc Công, thụy hiệu là Trung Liệt.

Du Thông Nguyên được phong làm Nam An Hầu còn Du Thông Uyên được phong làm Việt Tuyển Hầu. Ngoài ra, Chu Nguyên Chương còn đặc cách hạ lệnh cho Lưu Bá Ôn giúp mình xây dựng một căn nhà thật đẹp tặng cho anh em họ và con cháu họ Du.

Lưu Bá Ôn cùng với ba anh em họ Du đều sống chêt vì Chu Nguyên Chương đánh lấy thiên hạ, lập nhiều chiến công. Trong quá trình khởi nghĩa, hai bên cũng có thể nói là vào sống ra chết cùng nhau, tình cảm sâu nặng.

Nay được Chu Nguyên Chương giao việc xây nhà cho họ Du, Lưu Bá Ôn đương nhiên không có lý do gì để không làm hết sức mình. Vì thế, ngôi nhà mà Lưu Bá Ôn xây dựng cho anh em họ Du hết sức nguy nga tráng lệ. Ngoại trừ hoàng cung, tại Nam Kinh không có ngôi nhà nào có thể sánh kịp với căn nhà này.

Tuy nhiên, người đời xưa thường nói, cây càng cao thì gió càng lớn. Căn nhà quá to, thường bị người ta lấy ra so sánh với hoàng cung của anh em họ Du đương nhiên khó tránh khỏi việc mang theo mầm họa.

Thừa tướng Hồ Duy Dung trước mặt Chu Nguyên Chương đã bẩm tấu rằng: “Bệ hạ phong công, phong hầu cho nhà họ Du, lại còn tổ chức quốc tang cho Du Thông Hải, có thể nói là đối đãi với họ không hề bạc. Nay bệ hạ lại xây cho nhà họ Du một căn nhà to đẹp như vậy, sợ rằng…”

Chu Nguyên Chương ngắt lời họ Hồ, nói: “Bích Tuyền công ở trên tất cả mọi người, đó là ý trẫm quyết định”. Hồ Duy Dung vẫn chưa chịu thôi, nói: “Đây là chỗ nhân hậu của bệ hạ. Tuy nhiên, đây có lẽ sẽ là điều bất lợi cho xã tắc”.

Chu Nguyên Chương bắt đầu để ý, hỏi: “Vì sao?” Hồ Duy dung chỉ vào căn nhà cao ngất của nhà họ Du nói: “Bệ hạ xem, mây khói thành vòng, nhà họ Du xuất hiện vương khí!” Chu Nguyên Chương nghe thấy hai chữ “vương khí” thì trầm ngâm không nói.

Hồ Duy Dung biết cơ hội đã tới, nói tiếp: “Du Thông Hải khi còn sống đức cao vọng trọng, bộ hạ cũ đều quen nghe chỉ huy của ông ta. Nay Thông Nguyên và Thông Uyên đều giữ chức vụ quan trọng, hậu duệ của Thông Hải lại đều là những người xuất sắc.

Nếu một ngày nào đó họ có chí khác thì thiên hạ của Đại Minh e rằng không được bền lâu”. Vốn tính đa nghi, lại chỉ lo có kẻ tranh giành thiên hạ với mình nên khi nghe những lời này của Hồ Duy Dung, Chu Nguyên Chương không khỏi gật đầu, nói: “Ngươi nói nên làm thế nào?”Hồ Duy Dung nói ngay: “Dỡ nhà, phá vương khí”.

Vừa may, câu chuyện mới tới đó thì Lưu Bá Ôn tới. Vừa nghe thấy lời của Hồ Duy Dung, trong lòng Lưu Bá Ôn đã thất kinh. Nếu như dỡ nhà thì chẳng phải nhà họ Du cũng bị hủy hoại hay sao?

Lưu Bá Ôn định lên tiếng ngăn cản Chu Nguyên Chương, tuy nhiên, chợt nghĩ, nay Chu Nguyên Chương đã là hoàng đế chứ không còn là người ra sống vào chết với nghĩa quân khi xưa nữa, nếu không cẩn thận có thể mất mạng như chơi.

Chợt trong đầu Lưu Bá Ôn lóe lên một cách. Ông vội bước vào trong phòng nói với Chu Nguyên Chương: “Hoàng thượng, khi xây dựng thần đã sơ ý xây nhà của họ Du quá cao. Thần đang định đến gặp hoàng thượng để xin ý kiến về việc giải trừ vương khí của nhà họ Du”.

Chu Nguyên Chương thấy vậy hỏi: “Tiên sinh có kế gì không?” Lưu Bá Ôn nói: “Cá (trong tiếng Hán, chữ cá với họ Du có cách đọc như nhau, vì thế cá ý chỉ nhà họ Du) mà ra biển thì có thể hóa rồng. Nay thần chỉ cho căn nhà họ Du một cái giếng.

Lại thêm, cá vốn rất sợ mèo ăn thịt vì thế, thần đã phái một con mèo canh giữ trước cửa, cá chỉ cần lò đầu ra thì mèo có thể nuốt gọn. Như vậy, chẳng cần phải tốn công sức dỡ nhà khiến mất lòng dân, phá hoại cảnh thái bình thịnh trị mà vẫn có thể trừ được vương khí nhà họ Du. Hoàng thượng thấy sao?”

Chu Nguyên Chương nghe kế của Lưu Bá Ôn thấy hợp lý bèn nói: “Cứ theo cách của tiên sinh mà làm”.

Sau khi được sự đồng ý của Chu Nguyên Chương, Lưu Bá Ôn đã bày “bát quái trận” xung quanh nhà họ Du. Ông lệnh cho quân sĩ dựng một tấm bia đá ở trước cửa nhà họ Du, bên trên bia khắc hình hơn 100 con mèo.

Phía trước của tấm bia là một cái giếng. Phía sau nhà là một bức tường chặn kín. Phía Đông của căn nhà là một đài câu cá. Sau đó, Lưu Bá Ôn nói với Chu Nguyên Chương: “Nếu như một ngày nào đó, con cá này phá cửa mà ra thì sẽ bị hơn 100 con mèo nuốt chửng.

Nếu như có chạy thoát khỏi 100 con mèo thì phía sau là tường chắn, hai phía Đông Tây là đài câu cá, tầng tầng lớp lớp bao vây, nó cũng không thể ra được tới biển để biến thành rồng được. Muốn có nước chỉ còn cách là xuống chiếc giếng ở trước nhà. Cá mà sống ở giếng thì không thể nào làm nên trò trống gì được”.

Chu Nguyên Chương thấy rằng sắp đặt như vậy, nhà họ Du sẽ không bao giờ có thể ra tới biển để trở thành rồng thì vui mừng lắm, thưởng cho Lưu Bá Ôn rất hậu hĩnh.

Hải Phong

Chuyện Hàn Tín chôn sống mẹ ruột để được phong thủy

(Thâm cung bí sử) – Hàn Tín là cái tên không xa lạ với nhiều người dân thuộc nền văn hóa Đông Á. Họ Hàn là khai quốc công thần nhà Tây Hán, là một tướng quân anh dũng thiện chiến, một nhà quân sự túc trí đa mưu. Nhờ chiến thuật linh hoạt, biến đổi khôn lường của mình, Hàn Tín đã góp một công sức không nhỏ trong việc giúp Hán Cao Tổ Lưu Bang giành được thiên hạ trong cuộc tranh chấp với Sở Bá Vương Hạng Vũ, được người đời xưng tụng là “quốc sĩ vô song”, “công cao vô nhị”.

Tuy nhiên, dù công cao cái thế, song trong nhiều truyền thuyết dân gian, Hàn Tín cũng có những chuyện chẳng lấy gì làm quang minh chính đại. Người ta nói rằng, để “được phong thủy” phục vụ cho sự thăng tiến của bản thân, Hàn Tín đã chôn sống mẹ ruột của mình…

Hàn Tín sinh năm 229 trước Công nguyên trong một gia đình nghèo khó. Từ khi sinh ra, Hàn Tín đã không có cơ hội nhìn mặt cha ruột của mình, theo mẹ trải qua những ngày cực kỳ gian khổ, sống nhờ sự cứu tế của người khác vì thế hai mẹ con họ Hàn thường xuyên bị người xung quanh coi rẻ.

Khi Hàn Tín lớn lên một chút, cũng chẳng có vẻ gì là một người có chí hướng, tính tình phóng túng, không hiểu lễ độ, chẳng lo gì tới việc làm ăn, cả ngày đeo bên mình thanh kiếm do ông cha truyền lại lang thang khắp đây đó khiến từ đầu phố tới cuối hẻm không ai không chê cười.

Một hôm, Đình trưởng Nam Xương Đình thấy Hàn Tín tuy phóng đãng, ngỗ ngược song tướng mạo đường hoàng, cốt cách hơn hẳn hạng phàm phu tục tử nên đã mời họ Hàn tới làm môn khách trong nhà mình.

Tuy nhiên, Hàn Tín là kẻ chẳng quan tâm tới lễ tiết, chẳng quan tâm tới chuyện vụn vặt, vì thế chẳng biết làm thế nào mà đắc tội với phu nhân của đình trưởng. Đình trưởng phu nhân cứ mỗi lần nhìn thấy Hàn Tín là lập tức nổi điên lên, nhất định không chịu nhìn mặt.

Vì thế, mỗi khi Hàn Tín tới ăn cơm thì cơm đã hết từ lâu. Thời gian trôi qua, Hàn Tín cũng nhận ra rằng đình trưởng phu nhân không ưa gì mình, đành phải bỏ đi.

Hàn Tín sinh năm 229 trước Công nguyên trong một gia đình nghèo khó.

Hàn Tín rời khỏi nhà đình trưởng Nam Xương, chợt nhớ ra một việc. Một hôm, nhà đình trưởng mời tới một lão tiên sinh. Người này râu dài bạc như cước nhưng mặt mũi thì lại hồng hào, giống như một cao nhân đắc đạo.

Sau khi đình trưởng và ông lão uống trà xong, hai người cùng nhau đi ra ngoài lên núi. Hàn Tín nổi cơn tò mò, cũng lần theo sau. Mỗi khi hai người quay lại nhìn, Hàn Tín lại vội vàng nấp vào bụi cây. Đình trưởng và ông lão đi vòng qua mấy ngọn núi, nơi này thì nhìn ngó tìm kiếm, nơi khác lại xem xét, thi thoảng lại dừng lại, đo đo đạc đạc, sau một hồi lại đi.

Đột nhiên, hai người dừng lại ở một nơi, chỉ thấy mặt ông lão lộ ra vẻ vui mừng. Hàn Tín rất muốn biết họ đang làm chuyện gì, vì thế, tiến sát tới gần trốn ở một bụi rậm cách rất gần 2 người. Câu chuyện giữa đình trưởng và lão tiên sinh, Hàn Tín nghe rõ từng câu một.

Lúc bấy giờ, chỉ nghe ông lão nói: “Nơi đây không tồi, để tôi đo đạc kỹ hơn xem sao”. Vị đình trưởng nghe vậy, cung kính nói: “Mong lão tiên sinh giúp cho, chuyện tiền công, chỉ cần tiên sinh muốn bao nhiêu sẽ có bấy nhiêu”.

Ông lão dường như không nghe thấy lời của vị đình trưởng, chuyên tâm quan sát khu vực quanh đó. Đột nhiên, ông lão nói: “Đây thực là một nơi bảo địa phong thủy hiếm gặp! Ta đã xem phong thủy rất nhiều năm, đi khắp nam bắc nhưng chưa bao giờ gặp một nơi phong thủy đẹp như nơi đây”.

Viên đình trưởng vui mừng như muốn nhảy cẫng lên, vội vàng bước tới hỏi: “Có thật không? Mong tiên sinh chỉ bảo rõ hơn”.

Ông lão dùng tay vuốt chòm râu bạc như cước của mình, cười nói: “Trên đầu của nơi này chính là hồ Hồng Trạch, phía dưới chân thì có rất nhiều ao hồ nhỏ, bên tay trái chính là Ác Kim Hồ, bên tay phải là Nữ Sơn Hồ.

Theo phong thủy mà nói thì, nơi sông hồ uốn khúc quay vòng trở lại, đó chính là nơi tích tụ long mạch”. Đình trưởng nghe xong vui mừng lắm, nói: “Vậy thì quyết định chọn nơi đây!” Tới lúc này, Hàn Tín mới biết rằng, hóa ra hai người này đang xem phong thủy để tìm nơi chôn cất người.

Đúng lúc Hàn Tín định bỏ đi thì ông lão lại nói với vị đình trưởng: “Vì ông đã tin ta nên ta cũng tiết lộ cho ông biết. Ông xem, Hồng Trạch Hồ ở phía trên đầu trông giống như một chiếc mũ của nguyên soái, hai bên Ác Kim Hồ và Nữ Sơn Hồ giống hai chiếc đai bay của mũ.

Ngoài ra còn có Bạch Mã Hồ đứng ở bên cạnh hầu hạ. Đây chính là mảnh đất phong thủy có thể giúp người ta phong hầu bái tướng hơn nữa chính là một võ tướng rong ruổi chiến trường”. Đình trưởng nghe thấy vậy, càng vui hơn nói:

“Nếu như điều đó là thật thì tại hạ và tiên sinh sẽ cùng nhau hưởng vinh hoa phú quý, truyền đến ngàn vạn đời sau!” Thầy phong thủy cười một cách mãn ý nói: “Ta đây đang chờ được nghe một câu nói như vậy của đình trưởng.

Nếu đến ngày ta trăm tuổi mà được cùng chôn ở nơi đây để được cùng hưởng phong thủy thì ta sẽ chọn chính huyệt cho đình trưởng”. Viên Đình trưởng nói: “Không sai, đại trượng phu đã nói một lời, bốn ngựa cũng không đuổi kịp! Lão tiên sinh ngài cứ yên tâm”.

Thầy phong thủy nói: “Mang cho ta một cái cọc tới đây, ta cũng muốn đánh cược một ván. Cả đời khó có thể gặp được nơi phong thủy đẹp như thế này, cần phải điểm vào chính huyệt của nó”.

Chỉ thấy, ông lão đi về hướng Đông 10 bước rồi chăm chú nhìn, một lúc sau, ông lão dùng chiếc cọc tre cầm trên tay đóng xuống đất và nói: “Nói thực với ngài, nếu như không có câu nói cùng hưởng vinh hoa phú quý của ngài, thì theo thói thường, tôi sẽ không bao giờ điểm vào chính huyệt cả. Bởi lẽ, nếu như điểm vào chính huyệt sẽ làm tổn hại đến dương thọ của chúng ta.

Hai người nói chuyện tới đây thì Hàn Tín lẳng lặng bỏ đi, coi chuyện này chẳng phải là chuyện gì ghê gớm. Tuy nhiên, sau khi bị đình trưởng phu nhân đuổi ra khỏi cửa, Hàn Tín trở thành kẻ vô gia cư, ăn bữa sáng lo bữa tối, vì thế đột nhiên, Hàn Tín cảm thấy căm ghét nhà đình trưởng.

Vì sao nhà các ngươi lại được ăn sung mặc sướng, được người người tôn trọng trong khi Hàn Tín ta cũng là người lại phải cơm hẩm canh thiu, lại còn phải chịu sự khinh rẻ của người đời. Đột nhiên, Hàn Tín nhớ lại chuyện đình trưởng chọn mộ.

Tên đình trưởng đã giàu có, tương lai lại còn muốn được bái tướng phong hầu, vừa giàu vừa sang, tất cả mọi điều tốt lành đều thuộc về ngươi cả. Không được, ta nhất định rút cây cọc đánh dấu để xem ngươi còn bái tướng phong hầu nữa hay không.

Nghĩ vậy, Hàn Tín đi theo đường nhỏ chạy lên núi. Cây cọc tre mà thầy phong thủy đánh dấu vẫn còn đó. Hàn Tín xông đến định nhổ cây cọc lên. Tuy nhiên, đương lúc cầm vào cây cọc, Hàn Tín chợt nghĩ, dù ta có nhổ cây cọc này đi, đình trưởng vẫn có thể dẫn thầy phong thủy tới xem lại, chi bằng ta đổi cây cọc đi chỗ khác, phong thủy cũng sẽ thay đổi theo.

Đáng tiếc đây là nơi có phong thủy đắc địa. Chi bằng ta mang phần mộ của nhà ta tới đây, nếu đúng như ông lão phong thủy nói thì gia đình ta rồi cũng có lúc phong hầu bái tướng.

Nghĩ thế, Hàn Tín nhổ cây cọc tre rồi dùng một ký hiệu riêng đánh dấu vào chỗ cây cọc vừa bị rút. Tiếp đó, Hàn Tín đi ngang theo sườn núi mấy chục bước, nhìn thấy xung quanh khung cảnh không khác nhiều so với nơi thầy phong thủy đã chọn liền lấy cây cọc đóng xuống đó.

Tuy nhiên, lúc này Hàn Tín lại gặp phải khó khăn lớn. Từ nhỏ, Hàn Tín đã không biết mặt cha mình là ai, cũng chẳng biết cha mình chôn ở đâu làm sao để mang phần mộ cha tới chôn ở nơi phong thủy bảo địa này đây.

Nghĩ thế, Hàn Tín chạy về nhà hỏi mẹ, không ngờ, mẹ Hàn Tín đáp: “Con không có cha, nhà ta cũng chẳng có phần mộ đâu”. Hàn Tín nói: “Con làm sao lại không có cha được? Không có cha thì con từ đâu ra? Lẽ nào là mẹ nhặt về hay sao?”

Tuy nhiên, bất kể Hàn Tín hỏi thế nào, bà mẹ cũng không chịu nói nửa lời. Hàn Tín không còn cách nào khác, đành phải đem chuyện viên đình trưởng chọn mộ và dự định của mình nói với mẹ. Lúc này, mẹ của Hàn Tín mới mở hòm lấy ra một thứ, Hàn Tín nhìn theo, hóa ra đó là một bộ da động vật.

Hàn Tín kinh ngạc lùi lại sau hai bước, nhìn trừng trừng vào bộ da hỏi: “Đây là thứ gì vậy?” Mẹ Hàn Tín nước mắt lưng tròng nói: “Con chẳng hỏi ta cha con là ai hay sao? Đây là cha con…” Hàn Tín cầm bộ da thú dữ dằn ném xuống đất rồi nói: “Không! Đây làm sao là cha con được?”

Bà mẹ vừa khóc vừa nói: “Con à, con hãy từ từ nghe mẹ nói đã. Nhà ta cách nơi đây rất xa, lúc đó, gia đình chúng ta vẫn có thể coi là một nhà có của ăn của để. Khi ta trưởng thành, một đêm, trong phong ta bỗng nhiên xuất hiện một chàng công tử vô cùng tuấn tú, có thể nói là trên đời khó tìm.

Sau đó, cứ cách vài ba hôm chàng ta lại tới một lần nhưng lúc tới và lúc đi đều không để lại tông tích gì, cũng chẳng ai hay biết. Chúng ta qua lại với nhau suốt hơn một năm, vì thế mới có con ra đời”. Hàn Tín cướp lời mẹ nói: “Vậy thì chàng công tử tuấn tú kia là cha của con?”

Mẹ Hàn Tín lại nói: “Đêm hôm đó, chàng ta lại tới, chàng nói với ta sự thật. Chàng ta nói chàng ta là một con khỉ đã tu luyện hơn nghìn năm, đã đắc đạo thành tiên. Tuy nhiên, nay chàng ta đã phạm vào luật trời, tiên giới muốn trừng phạt chàng ta, chàng ta không sống được nữa nên mới nghĩ tới chuyện lấy da của mình để tặng cho ta.

Chàng ta nói xong thì biến mất, trong phòng từ đâu bỗng xuất hiện một bộ da khỉ. Chuyện chàng trai là khỉ thành tinh thì có thể giấu được chứ cái bụng của ta thì làm sao mà giấu được. Cha mẹ ta căn vặn ta xem ai là cha đứa trẻ nhưng ta không thể trả lời được.

Cha mẹ mắng chửi ta là làm nhục gia đình, đuổi ta ra khỏi nhà. Ta mang cái bụng to đi khắp phố phường tìm miếng ăn, cuối cùng sinh ra con ở một bãi cỏ hoang. Người chưa tới số chết thì chắc chắn sẽ được cứu.

Khi mẹ hai mẹ con ta đang sắp chết vì đói thì chúng ta được một ông lão cứu sống. Ông lão đó họ Hàn, không con không cái, chỉ có 2 ông bà già chung sống với nhau. Ta đã nhận hai ông bà ấy làm cha mẹ nuôi. Vì thế, con mới mang họ Hàn.

Hai ân nhân của chúng ta lần lượt qua đời, chính vì thế, hai gian nhà này mới trở thành nơi nương tựa của mẹ con ta”.

Hàn Tín nghe xong, chẳng nói chẳng rằng, cầm bộ da khỉ lên, tới sân sau tìm một cái xẻng rồi lên núi. Sau khi tìm được chỗ, chẳng mất bao nhiêu công sức, Hàn Tín đã đào được một cái hố lớn, to bằng huyệt mộ. Đào xong, Hàn Tín ném bộ da khỉ xuống dưới đáy huyệt.

Tuy nhiên, khi bộ da khỉ còn chưa rơi xuống tới đáy huyệt thì một cơn gió từ đâu thổi tới, đẩy ngược bộ da lên. Hàn Tín ném lại, lại bị gió thổi lên. Hàn Tín lấy làm lạ, nhìn xung quanh không hề thấy có gió. Hàn Tín lại cầm bộ da ném lại một lần nữa, lại bị gió thổi ngược lên.

Dường như gió sinh ra từ dưới đấy huyệt. Hàn Tín lúc này mới nghĩ thầm: Ta không tin là không chôn được! Nghĩ xong, Hàn Tín tìm một viên đá to đặt lên trên miếng da khỉ rồi ném xuống dưới huyệt. Tuy nhiên, kết quả viên đá rơi xuống còn bộ da khỉ vẫn bị thổi ngược lên trên. Hàn Tín thấy không có cách nào khác, đành phải quay về nhà gọi mẹ.

Khi gọi mẹ tới, Hàn Tín nói mẹ mình xuống huyệt để đón bộ da khỉ cho mình, đợi khi mình dùng xẻng xúc đất đổ đè lên bộ da xong thì sẽ kéo mẹ lên. Mẹ Hàn Tín nghe theo lời của con trai trèo xuống hố, hai tay nhận bộ da khỉ.

Không ngờ khi Hàn Tín chỉ mới xúc được một xẻng đất thì một cơn cuồng phong không biết từ đâu thổi tới, cuốn toàn bộ đất cát mà Hàn Tín đào lên lúc trước lấp xuống huyệt mộ. Mẹ Hàn Tín cũng bị đất đá chôn luôn dưới huyệt.

Hàn Tín sợ quá, chẳng biết làm thế nào, đứng ngây ra một lúc rồi mới vội vã dùng xẻng đào đất lên để cứu mẹ. Thế nhưng, đất bị đào lên tới đâu thì như có phép lạ lại bị hút trở lại tới đó. Hàn Tín biết rằng, mình không thể cứu được mẹ, khóc một trận lớn, khấu đầu lạy ba cái rồi ngầm ngùi trở về nhà.

Khi Hàn Tín từ mộ mẹ mình trở về, đi ngang qua khu chợ thì có mọt người mổ lợn tuổi tác tương đương với Hàn Tín bước ra chặn lại. Anh chàng mổ lợn này cơ thể cao lớn, khỏe mạnh, tay lúc nào cũng lăm lăm con dao mổ, đi lại nghênh ngang, khiến cả thành Hoài Âm không ai không sợ.

Tên mổ lợn chặn Hàn Tín lại nói: “Nhìn ngươi cao to, ngựa tốt, lại đeo bên mình một thanh kiếm giống như ai cũng phải sợ ngươi! Nếu như ngươi có gan thì rút kiếm ra tỉ thí với ta, xem kiếm của ngươi mạnh hơn dao mổ lợn của ta bao nhiêu.

Nếu như ngươi sợ chết không dám thì hãy quỳ xuống bò quá háng của ta mà đi tiếp”. Lúc này, những kẻ ăn theo tên mổ lợn cũng không ngớt đứng bên ngoài hò reo thách thức Hàn Tín.

Hàn Tín nhìn bộ dạng cao lớn của tên mổ lợn, cảm thấy không ổn. Lúc đó, đến cơm Hàn Tín cũng chưa ăn, lấy đâu ra sức mà đánh lại một tên mổ lợn to lớn thế này. Nếu như mình bị đánh chết, mọi người đều sợ tên đồ tể, không ai ra làm chứng thì chẳng khác gì mình chết oan.

Thôi được rồi, chẳng phải ta muốn sau này được phong hầu bái tướng hay sao? Tới lúc đó ta trả mối thù bị xỉ nhục này cũng chưa muộn. Nghĩ vậy, Hàn Tín chầm chậm cúi đầu, quỳ xuống và bò qua háng của tên đồ tể mà đi. Những người đứng xem xung quanh ai nấy được một trận cười vỡ bụng.

Hàn Tín ôm ấp chí lớn ngang dọc chiến trường, mang thanh kiếm gia truyền tới đầu quân dưới trướng của Hạng Lương. Sau khi Hạng Lương bại trận bị chết, Hàn Tín theo về với Hạng Vũ, làm chức chấp kích lang trung, thực tế là chức canh cửa.

Hàn Tín nhiều lần hiến kế cho Hạng Vũ nhưng Hạng Vũ vốn tự phụ, không thích nghe ý kiến của người khác. Hàn Tín cảm thấy mình ở dưới trướng của Hạng Vũ sẽ không thể thi triển được tài năng vì thế quay sang đầu quân cho Lưu Bang, làm một chức quan nhỏ trông coi kho lương.

Quân sư của Lưu Bang là Tiêu Hà sau nhiều lần nói chuyện với Hàn Tín, phát hiện Hàn Tín là một nhân tài, nhiều lần tiến cử Hàn Tín với Lưu Bang. Tuy nhiên, Lưu Bang cũng như Hạng Vũ không mấy để ý tới Hàn Tín.

Trong một lần đại quân của Lưu Bang hành quân, mười mấy vị tướng lĩnh đã tìm cách bỏ trốn. Hàn Tín cũng cảm thấy mình không được Lưu Bang trọng dụng nên cũng bỏ trốn theo. Tiêu Hà sau khi biết chuyện, vội vàng đuổi theo Hàn Tín.

Đây chính là nguồn gốc của giai thoại nổi tiếng: “Dưới trăng Tiêu Hà đuổi theo Hàn Tín”. Sau khi Tiêu Hàn tìm được Hàn Tín trở về, đã hết lời tiến cử Hàn Tín với Lưu Bang. Nể tình của quân sư họ Tiêu, Lưu Bang mới chấp nhận phong cho Hàn Tín làm tướng quân.

Sau khi có được sự trọng dụng, Hàn Tín có cơ hội thi triển tài năng. Những chiến thắng vang dội của quân Hán trước quân Sở đều do Hàn Tín thực hiện. Do công lao ngày càng lớn, tước vị của Hàn Tín cũng ngày một cao hơn.

Trước sau, Hàn Tín đảm nhiệm các chức tướng quân kiêm tả thừa tướng, đại tướng quân kiêm tướng quốc, Tề vương, Sở vương. Tuy nhiên, cuối cùng Hàn Tín bị giáng làm Hoài Âm hầu. Vì thế, sau này, người ta đều gọi Hàn Tín là Hoài Âm hầu.

Do công cao át chủ, Hàn Tín trở thành mối đe dọa đối với triều đình nhà Hán. Vì thế, sau khi Lưu Bang chết, Lã Hoàng hậu vu cáo Hàn Tín mưu phản rồi ra lệnh giết chết.

Năm bị giết, Hàn Tín mới chỉ 32 tuổi. Người ta đều nói, do Hàn Tín chôn sống mẹ mình để được phong thủy làm tổn thương tới dương thọ vì thế mới chết trẻ như vậy.

Hải Phong

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Giai Thoại Nhân Vật Phong Thủy

Nữ thần trong truyền thuyết của Trung Hoa cổ đại.

Cửu Thiên Thánh Mẫu là tên một vị Nữ Thần trong Đạo Giáo, tục thường gọi là Cửu Thiên Huyền Nữ, Cửu Thiên Nương Nương. Trong Thần Thoại cổ truyền của Trung Hoa là một vị Nữ thần có Pháp lực vô biên. Do có công trừ bạo an dân nên được Ngọc Hoàng Thượng Đế sắc phong là Cửu Thiên Huyền Nữ, Cửu Thiên Thánh Mẫu..

Theo truyền thuyết cổ xưa khi Hoàng Đế giao chiến với Xuy Vưu ở Trác Lộc (Nay thuộc tỉnh Hà Bắc huyện Trác Lộc) đánh chín trận mà không thắng nổi. Xi Vưu rất mạnh, y dùng Pháp Thuật làm mây mù mờ mịt ba ngày ba đêm, làm cho quân sĩ không nhìn thấy mặt trời, không phân biệt nổi đường đi sông núi phương hướng, hãm Hoàng Đế dưới chân núi Thái Sơn. Hoàng Đế thấy quân sĩ của mình không có cách gì tác chiến, dẫn binh quay về chân núi Thái Sơn, đêm ngày suy n

ghĩ băn khoăn. Tây Linh Thánh Mẫu liền sai sứ giả đem áo choàng lông cáo xuống trao cho Hoàng Đế và nói “Thái Nhất tại tiền, Thiên Nhất tại Hậu, Đắc Chi Giả Thắng, Chiến tắc khắc hỹ.” Tây Linh Thánh Mẫu truyền cho Thần Phù “Rộng ba tấc, dài ba thước, sáng xanh như ngọc, nét chữ như máu đỏ”

Truyền Thần Phù xong, Tây Linh Thánh Mẫu lại lệnh cho đệ tử của mình là Cửu thiên Huyền Nữ truyền thụ cho Hoàng Đế ” Tam Cung Ngũ Ý Chi Lược, Thái Nhất Độn Giáp, Lục Nhâm Bộ Đẩu Chi Thuật, Âm Phù Chi Cơ, Linh Bảo Ngũ Phù Ngũ Thắng Chi Văn”. Để chắc thắng Xuy Vưu Cửu Thiên Huyền Nữ lại chỉ cho Hoàng Đế chế ra một cái trống da trâu có 80 mặt rất lớn, lại cấp cho sách lược, ấn kiếm, dùng để chiến đấu. Sau đó Hoàng Đế đã đánh bại được Xuy Vưu.

Đó là trong truyền thuyết ! Sự mờ ảo của truyền thuyết thực sự đã không cho các nhà nghiên cứu văn hóa hiện nay tìm ra hành tích chân thực của Cửu Thiên Huyền Nữ. Có người đặt giả thuyết rằng đó là một vị nữ Quân Sư của Hoàng Đế. Tuy nhiên các bộ sách và học thuật mà tương truyền là của Cửu thiên Huyền Huyền Nữ vẫn tồn tại đến nay. Các thế hệ học giả sau này vì ghi nhớ công ơn của Bà đã lấy tên Bà ký thác cho các tác phẩm của mình. Như “Dương Công Mặc Thụ Huyền Nữ Bí Chỉ”, “Hồng Loan Cửu Thiên Huyền Nữ Bí Chỉ” đều là các sách có giá trị trong học thuật, và văn hóa.

Quách Phác (276 – 324 sau Công Nguyên) là một Văn Học Gia và Huấn Hỗ Gia (Chú giải các Kinh Điển) đời Đông Tấn. Ông tên chữ là Cảnh Thuần, người

Quách Phác được hậu thế coi trọng là bậc Tổ Sư Khai Sơn của Học Thuật Phong Thủy, luận về Phong Thủy Học không thể không nói đến Quách Phác. Trong sách “Tấn Thư” nói về ông như sau “Phác chuyên học Kinh Thuật, sâu rộng có tài cao”, “Giỏi về cổ văn kỳ tự, có hiểu biết sâu sắc về thuật toán âm dương ngũ hành”, “Hiểu sâu sắc về bói Dịch và Ngũ Hành, chuyển họa tránh tai, thông biến vô cùng”…Tương truyền ông là người viết Táng Thư là người đầu tiên nói đến hai chữ Phong Thủy “葬者,乘生气也。经曰:气乘风而散,界水则止古人聚之使不散,行之使不散,行之使有止,故谓之风水” (Táng giả, thừa sinh Khí dã. Kinh viết: “Khí thừa Phong nhi Tán, giới Thủy tắc chỉ, cổ nhân tụ chi sử bất tán, hành chi sử bất tán, hành chi sử hữu chỉ, cố vị chi Phong Thủy). Cũng theo truyền thuyết Thành Ôn Châu (Nay vẫn còn) là do Quách Phác lợi dụng địa thế tự nhiên sử dụng các gọn núi xếp thành hình sao Bắc Đẩu mà kiến thiết.

Khi đó mọi người định ở tại bờ bắc của sông mà kiến thiết thành mới, cho mời Quách Phác điểm đất, ông đi thuyền qua bờ bắc xem đất, nhận thấy đất nơi ấy quá nhẹ, không để xây thành được, mới đi qua bên này sông, trèo lên dãy núi phía Tây Bắc, xem thấy các ngọn núi hình thành nên một chuỗi tựa hình sao Bắc Đẩu, Hoa Cái Sơn khóa ngay cửa khẩu, liền nói với mọi người: “Nếu kiến thiết Thành mới ở phía ngoài núi, có thể tụ được Phú Quý, song e có nhiều họa chiến tranh, nếu kiến thiết Thành ở trong núi, có thể giữ được sự an định lâu dài” do đó mọi người đồng lòng kiến thiết Thành Ôn Châu dựa vào trong núi. Chỗ núi mà Quách Phác leo lên quan sát từ đó có tên là Quách Công Sơn, để lưu dấu công tích một vị Đại Sư về Học Thuật Phong Thủy.

Nói đến Quách Phác tất không thể không nhắc đến bộ sách “Táng Thư” nổi tiếng của Ông. Trong bộ sách này lần đầu tiên các thuật ngữ về Phong Thủy Học đã được sử dụng như Sinh Khí, Tàng Phong, Đắc Thủy, Hình Thế, Tứ Linh, Phương Vị chúng tôi này cho dù Phong Thủy Học đã phát triển thành nhiều môn nhiều phái, song các Tri Thức Căn Bản này đều được các Phái khai thác sử dụng rất nhiều.

Phong Thủy Học của Quách Cảnh Thuần Tiên Sinh không chỉ là một bộ môn học thuật đơn thuần, cao hơn nữa nó chân chính là một Triết Lý Nhân Sinh về Hiếu Tâm (Lòng Hiếu Nghĩa) của con người. “Cho nên Danh Mộ trong thiên hạ đều ở tại chỗ đó. Đều là Chân Long phát tích, xa xa trăm dặm, hoặc hơn mười dặm mà kết Một Huyệt, tại chỗ Kết Huyệt là Núi bọc vòng vòng bảo vệ nâng đỡ, nước chảy quang co nuôi dưỡng, tầng tầng lớp lớp, sa thủy tụ tập, nương tựa trước sau. Hình thành một Huyệt tất là do tinh anh sông núi, ngưng kết dung hội mới thành được. Muốn lấy được cái Tinh Anh đất trời đó, lấy di cốt cha mẹ mà táng tại nới đó, gửi gắm cả tương lai con cháu chỗ ấy, cho nên cũng là chỗ ký thác Tâm vậy. Ký thác Tâm ấy nên có cảm thông, tạo phúc cho hậu thế. Là Tâm của người có Trí Tuệ thông chỗ Khí, Khí lại thông với Trời, lấy cái Linh của Tâm người thông với cái Linh của Đất Trời Càn Khôn, giáng Thần dục Tú, là hợp lại nguồn sinh tức….Bởi vậy Tung Sơn xuất hai Đại Thừa Tướng, núi Ni Khâu sinh ra Đức Khổng Tử, nào phải ngẫu nhiên đâu ?! chẳng phải chôn xương cốt đâu, là chôn Tâm Người đó vậy.”…

Dương Cứu Bần, tên Ích, Tự Thúc Mậu, Hiệu Quân Tùng. “Giang Tây Thông Chí” chép rằng : Quân Tùng, người Đậu châu. Làm Quốc Sư đời Đường Hy Tông, làm quan đến Quang Tử Quang Lục Đại Phu, chưởng quản Linh Đài. Vào năm Hoàng Sào phá kinh thành, ông bỏ vào núi Côn Lôn. Tương truyền vào lúc hỗn loạn ông lấy được cuốn sách trong hộp ngọc của Hoàng Gia (Ngọc Hạp Thư). Bởi vốn dĩ học thuật Huyền Không Phong Thủy chỉ được lưu hành trong chốn cung đình thuộc quyền sử dụng của Hoàng Tộc. Bước rồng một bước qua Kiền Châu, Ông mang thuật Địa Lý ra thi hành nơi thế tục, xưng là Cứu Bần Tiên Nhân, mất nơi Kiền Châu, chôn tại Trung Quân Khẩu. ” Khâm Định Tứ Khố Toàn Thư” phần Tử ( Thầy ) cũng viết ” Quân tùng danh Ích, người Cám Châu” .

Dương Quân Tùng sinh vào năm Đường Thái Hòa thứ 8 ( Tây Lịch 834 ) ngày 8 tháng 3 giờ Tuất, năm thứ 3 Đường Thiên Hữu ( Tây Lịch 906 ), gặp người hại ngầm, trúng độc mà chết, hưởng thọ 72 tuổi. Ông được an táng tại Dương Công thôn, làng Khoan Điền huyện Đô tỉnh Giang Tây bên bờ Mai Giang. Sau này do lũ từ trên núi đổ xuống, bờ sông lở vỡ mộ Dương Công dịch chuyển vào dáy sông, không còn thấy dấu nữa.

Có thể nói Dương Quân Tùng là người tập đại thành cho Phong Thủy Học của Trung Hoa. Đối với người đi trước như Xích Tùng tử, Quách Phác…ông không bỏ sót ai. Đối với thế hệ đi sau các Lý Luận của ông đã được phát huy tối đa để trở thành các học phái lớn như Huyền Không Phi Tinh Phái, Tam Hợp Phái, Giang Tây Phái (Diêu Giang Phái), Quảng Đông Phái (Mân Phái), Phúc Kiến….

Các trước tác của ông hoặc được cho là của ông gồm: “Hám Long Kinh”, “Nghi Long Kinh”, “Thanh Nang Áo Ngữ”, “Thiên Ngọc Kinh”, “Ngọc Xích Kinh”…

Các thế hệ sau kế tiếp ông có rất nhiều nhân vật xuất sắc như Tằng Văn Địch, Liêu Vũ, Lưu Giang Đông , Lại Bố Y …thậm chí đã làm một vùng Văn Hóa Phong Thủy đặc sắc tại Cám Nam mà trung tâm là huyện Hưng Quốc – Trung Quốc.

Có một nhân vật mà chắc chắn ít người học Phong Thủy biết đến nhưng lại có vị trí vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của Phong Thủy Học, đó là Hoàng Thạch Công, ông tên thật là gì không ai biết, người ta chỉ biết đến ông thông qua một nhân vật vĩ đại khác, là người khai quốc mở ra lịch sử nhà Hán 400 năm, đến khi công thành đã nhanh chóng thoái ẩn Tu Đạo – Trương Lương. Tương truyền sau khi được thử thách lòng kiên trì nhặt giày cho một Lão Ông, Trương Lương khi đó còn rất trẻ đã được truyền thụ cho cuốn sách “Tam Lược” sau này dùng các học thuật phò giúp Hán Cao Tổ Lưu Bang dựng nghiệp từ tay trắng…Và cũng vì lời hẹn ước “13 năm sau ngươi sẽ gặp ta. Hòn đá màu vàng ở chân núi Cốc thành phía Bắc sông Tế là ta đó!” mà người ta gọi vị Trưởng Bối đó là Hoàng Thạch Công (Ông Đá Vàng) chứ tên thật và hình tích chân thực ra sao thì không ai biết …

Trong Phong Thủy học có lưu truyền một câu “Đệ Nhất Tiên Sinh khán Tinh Đẩu; Đệ Nhị Tiên Sinh tầm Thủy Khẩu; Đệ Tam Tiên Sinh mãn sơn tẩu” ý nói các vị Thầy Phong Thủy ở vào hàng thứ nhất muốn Điểm Huyệt thì xem Tinh Đẩu mà bày Quái Hào; Các vị ở tầng thứ hai thì căn cứ vào Thủy Khẩu để phán đoán chỗ kết Huyệt; Còn như hàng cuối cùng thì vác La Kinh lặn lội khắp nơi để tầm long tróc mạch…đây chính là chỗ người học Phong Thủy có nắm được hay không Hoàng Thạch Công Phiên Quái để từ đó theo Long Mạch phán đoán nơi có thể kết Huyệt Trường…Ôi vẫn là Tham – Cự – Lộc – Văn – Liêm – Vũ – Phá mà diệu dụng khôn lường …Đó là cái công lớn lao của Hoàng Thạch Công vị Tôn Sư ẩn nhẫn và Trương Tử Phòng người học trò kiên nhẫn vậy !

Cuối đời nhà Minh tiếp đầu đời nhà Thanh. Trong giới Phong Thủy học bỗng xuất hiện một nhân vật gây sóng gió trong Phong Thủy Học. Đó là Tưởng Đại Hồng ( 1616 – 1714) ) Ông tên thật là Kha, tự là Bình Giai, còn có tên là Chư Sinh, Văn Giai, hiệu là Tống Dương Tử – Đạo Hiệu là Vân Gian Đạo Nhân, môn nhân học trò xưng ông là Đỗ Lăng Phu Tử. Tưởng Tiên Sinh xuất thân là một Văn Sĩ lúc đầu theo học Phong Thủy Học của Tam Hợp Phái. Sau này cảm thấy không thỏa mãn, Ông bèn khắn gói lên đường Tầm Sư Học Đạo. Bước chân của họ Tưởng trải qua bao đường đất không ai biết, chỉ biết một thời gian dài sau ông bắt đầu viết sách công khai quảng bá cho một bộ môn Phong Thủy Học mới lạ. Đó là Huyền Không Phi Tinh. Theo một số truyền thuyết ghi lại, ông được Vô Cực Tử Đạo Nhân truyền thụ Huyền Không, được Ngô Thiên Trụ truyền dạy Thủy Long Pháp, được Vũ Di Đạo Nhân truyền Dương Trạch Pháp. Sự công bố và quảng bá này đã gây lên một cuộc tranh cãi sôi nổi, một cuộc “Bút Chiến” kéo dài gần 100 năm. Đặc biệt mặc dù công bố và quảng bá cho Huyền Không Phi Tinh nhưng tất cả các kỹ thuật của Huyền Không Phi Tinh cũng như nguồn gốc học thuật của mình Tưởng Tiên Sinh đều tỏ ra rất huyền bí.

Ông thường nói ông được Vô Cực Tử Đạo Nhân chân truyền học thuật Huyền Không. Nhưng cái tên Vô Cực Tử không thể tìm đâu ra hình tích. Nhưng thật sự các lý luận của Tưởng Đại Hồng đã cho thấy ông nắm rất vững học thuật Huyền Không này. Các chứng tích về Phong Thủy do Ông tạo tác còn đến ngày nay cũng đã chứng tỏ điều đó.

Các kỹ thuật của Tưởng Đại Hồng được bảo mật rất kỹ. Nó chỉ được truyền thụ cho một số ít học trò tâm đắc, mặc dù ông có nhiều học trò.

Các tác phẩm của Ông gồm: “Địa Lý Biện Chính”, “Địa Lý Biện Ngụy”, “Quy Hậu Lục”…Theo truyền nhân đời 83 của Phong Thủy Tưởng Thị hiện nay là Pháp Hinh Cư Sĩ đang sống tại Đài Nam – Đài Loan thì học thuật của Huyền Không Phong Thủy Tưởng Thị đặc sắc gồm bốn cột trụ lớn của Lý Khí Phong Thủy của Tưởng Công là: Ai Tinh ( Chia làm 24 Sơn Ai Tinh Đại Quái và 64 Quái tiểu quái Ai Tinh ), Thiên Tinh ( Vận dụng thất chính tứ dư chọn ngày, cách Cục bố Cục), Quan Thần ( Bát Quan Quan Thần và 12 Quan Quan Thần), Quái Khí ( 14 Quái Khí), thiếu một không thành.