Top 2 # Xem Nhiều Nhất Phong Thủy Và Đời Sống Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Saigonhkphone.com

Phong Thủy Và Đời Sống Con Người

Phong thủy là một phạm trù rất rộng lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người từ xa xưa, đến hiện nay, trong đó theo thuyết học phương đông thì vạn vật đều được hình thành từ ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Phong Thủy trong mọi trường hợp được vận dụng thực tế đều dựa trên nguyên lý tương sinh tương khắc của ngũ hành, từ đó mà hình thành lên vạn vật hay ngược lại là sự triệt tiêu của vạn vật.

Tác dụng của thác nước phong thủy là gì ?

Đây cũng là câu hỏi được rất nhiều người băn khoăn khi mới tìm hiểu, cũng như bắt gặp hoặc được nghe kể về thác nước áp dụng trong phong thủy. Ngoài ra cũng có rất nhiều bài viết về phong thủy nói đến thác nước có thể giúp mang đến tài lộc, vượng khí, mưa thuận gió hòa, thăng tiến … nhưng rất ít bài nói chi tiết đến cách hoạt động, cách lắp đặt … để chúng có thể làm được điều đó cho người sở hữu.

Thác nước phong thủy có tác dụng rất tốt cho gia chủ, bởi nó dựa trên nguyên tắc cơ bản và chính yếu của phong thủy, đó là mọi sinh vật, vật chất … trên thế gian này khi sinh ra đều phải chịu sự tác động ngũ hành đó là : Hành Kim – Hành Mộc – Hành Thủy – Hành Hỏa – Hành Thổ.

Quan hệ tương sinh ngũ hành của vạn vật là : Mộc sinh Hỏa – Hỏa sinh Thổ – Thổ sinh Kim – Kim sinh Thủy – Thủy sinh Mộc. Còn ngược lại là quan hệ tương khắc của ngũ hành : Mộc khắc Thổ – Thổ khắc Thủy – Thủy khắc Hỏa – Hỏa khắc Kim – Kim khắc Mộc. Đây là hai mối quan hệ mật thiết và gắn kết của vạn vật theo thuyết ngũ hành, tuy khó mà dễ, bởi cần phải nhận định đúng mới dung hòa được xấu thành tốt, yếu thành mạnh, cũng như khắc chế được các nhược điểm. Đây cũng chính là điểm quan trọng để tác dụng của thác nước phong thủy được nói đến rất nhiều.

Từ quy luật ngũ hành đó mà sinh ra, nhằm thể hiện mối quan hệ mật thiết trên, khép kín và mật thiết. Từ đó những dòng nước luân hồi, chảy mãi sẽ là mấu chốt để giúp cho không gian trong ngôi nhà được sinh ra vượng khí, thu hút tiền tài và hưởng sự an lành.

Tác dụng của thác nước phong thủy dựa trên phương hướng sắp đặt.

Phương hướng sắp đặt thác nước trong phong thủy cũng là điều cần hiểu biết, vì có những hướng đặt mới giúp sinh ra vượng khí, hoặc có những hướng không những không tốt mà còn gây ảnh hưởng xấu đến gia chủ, chính vì điều đó để tác dụng của thác nước được phát huy tốt nhất thì chúng ta cần phải để ý những phương hướng sau.

Hướng Đông : Đối với những ai đang mong muốn sức khỏe dồi dào, tránh bệnh tật, gia đạo êm ấm, hạnh phúc … thì cần đặt thác nước ở hướng Đông. Vì hướng Đông trong phong thủy là hướng thể hiện cho sức khỏe, nguồn năng lượng dồi dào, theo ngũ hành thì hướng đông thuộc hành mộc. Chính vì vậy đặt thác nước phong thủy, kết hợp với cây xanh ở đây sẽ giúp hút vào tạo ra sinh khí tốt, khỏe mạnh từ đó giúp cho cơ thể trở nên thông thoáng, vui vẻ, gia đình thuận hòa.

Hướng Đông Nam : nếu ai đang mong muốn và cầu về đường tài lộc, giàu có, thì Đông Nam sẽ là hướng nên đặt thác nước từ đó giúp cho nó phát huy được sức mạnh và tác dụng thác nước trong phong thủy, nên kết hợp với cây xanh. Hướng Đông Nam tượng trưng cho vận khí tài lộc, trong ngũ hành thuộc hành Mộc.

Hướng Bắc : với những ai đang cầu mong con đường danh vọng và thăng tiến trong sự nghiệp, thì nên đặc thác nước ở hướng này. Sự luân chuyển của dòng nước sẽ tạo ra sinh khí tốt, giúp bản thân thuận lợi trong con đường danh vọng và sự nghiệp. Hướng bắc tượng trưng cho sự nghiệp, trong ngũ hành thuộc hành Thủy.

Hướng Nam : hướng này là hướng rất xung khắc với nước, tác dụng thác nước không những không phát huy, mà còn gây hại cho gia chủ. Vì hướng Nam thể hiện cho sự thanh danh, trong ngũ hành thuộc hành Hỏa, do đó nếu để thác nước ở đây sẽ gây ra sự sung khắc, nước sẽ dập tắt hỏa ( theo tương khắc của ngũ hành thủy khắc hỏa )

, khiến cho thanh danh lụi bại, con đường thăng tiến bị trì trệ và xấu đi Nam vì đây là hướng của Lửa (hành Hỏa), vừa xung khắc (nước dập tắt lửa) vừa gây bất lợi cho đường sự nghiệp của gia chủ.

Những điều cần lưu ý sau khi lắp thác nước phong thủy

Thác nước hay còn gọi là thác nước phong thủy luân, có nghĩa là dòng nước luân hồi, chảy liên tục, chính vì vậy để phát huy được tác dụng tốt nhất gia chủ nên để dòng nước được chuyển động liên tục, không ngừng nghỉ, từ đó mới giúp tạo ra nguồn năng lượng tốt vào trong không gian.

Thác nước phong thủy Phật Phong thủy phòng khách chung cư thiết lập phong thủy cho không gian sống

Cửa mở cần có khoảng không lớn để tiếp nhận được khí, nhưng đồng thời cũng cần phải lưu thông hiền hòa Đường thủy phải là đường uốn lượn, mềm mại mới tốt, không trực diện, hung hãn sẽ không tốt. Thúy khí cần phải trong lành, tươi mát của cây cối … thì mới tốt, còn ngược lại nước cống, ao tù sẽ khiến không gian trở nên ô nhiễm, có hại cho sức khỏe. Đường thủy khí cần phải được thiết lập ở bên trái của ngồi nhà, đây cũng là phía của Thanh Long. Phong thủy và đời sống con người Phong Thủy được áp dụng rất nhiều trong đời sống hằng ngày, từ xa xưa cũng đã có rất nhiều câu chuyện nói đến điều này, như các câu chuyện về bậc thầy phong thủy Tả Ao với thuật phong thủy chính tông.

Thác nước phong thủy để bàn Thác nước phong thủy trong nhà Như hiện nay thì có rất nhiều trường phải phong thủy, dựa trên nhiều nguyên tắc khác nhau, giúp cho việc thiết lập một ngôi nhà sao cho phù hợp, đồng thời nhưng bố trí cây cối, ao nước, đường đi lối lại … sao cho tốt nhất, thu nạp được nhiều vượng khí.

Phong thủy và đời sống con người

Thác nước phong thủy ban công

Hay như để thiết lập một không gian tốt, thì cần phải chia không gian ra làm rất nhiêu góc khác nhau, trong đó có tổng cộng 24 góc, tiếp đó căn cứ vào tinh bàn để xem quả kinh dịch rồi từ đó kiểm tra sinh, vượng, suy, tử mà mở cửa đó gó, hay thiết lập các vật dụng cần thiết (Huyền Không Phi Tinh) …

Chính vì thế mà quý vị cũng nên cân nhắc và lựa chọn thật kỹ, trước khi áp dụng thuật phong thủy cho chính ngôi nhà của mình.

lạc hồng viên, nghĩa trang lạc hồng viên, lạc hồng viên hòa bình

Phong Thủy Với Đời Sống Và Nhà Ở

“Con người và các sinh thể sinh ra cũng mang trong mình một trường, gọi là trường nhân thể, ta thường gọi là điện sinh học, mỗi một sinh thể trường với mức độ mạnh yếu khác nhau, sẽ hợp với hướng trường của Trời – Đất không như nhau, người ta gọi là cung mạng. Với sự tác động thay đổi truyền dẫn của điện nhân thể bất cứ lúc nào bởi cảm ứng với từ trường quả đất hình thành sự tác động tương hỗ ảnh hưởng lẫn nhau sinh ra thuận hay nghịch, tốt hay xấu.”

Kiến trúc sư Phùng Đạo Hợp, tốt nghiệp khoá 1965 – 1970, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Sau 10 năm hành nghề kiến trúc ở Hà Nội, anh vào Đà Nẵng, Đồng Nai, Tp. Hồ Chí Minh, mấy năm gần đây lại trở về Hà Nội sinh sống. Là kiến trúc sư, song anh cũng là bác sỹ đông y, thông thạo Hán học, và đã dành gần 20 năm nghiên cứu sâu về lịch Pháp, Tướng số, Kinh Dịch, Huyền không học trước khi trở thành “kiến trúc sư Phong thuỷ” – như nhiều người tôn vinh anh. Kiến trúc sư Đoàn Đức Thành có cuộc trao đổi cùng anh về Phong thuỷ với cuộc sống và nhà ở:KTS. Đoàn Đức Thành: Hành nghề kiến trúc, song cũng hành nghề Phong thuỷ, trong hai lĩnh vực này có gì mâu thuẫn không anh?KTS. Phùng Đạo Hợp: Lâu nay tôi vẫn làm hai việc này song song, tuy hai mà là một, vì thiết kế kiến trúc một công trình nào cũng bắt buộc phải hợp logic và phải chính xác, hợp lý trong tổ chức không gian sống và làm việc của con người trong một môi trường tự nhiên. Có điều, nếu đơn thuần với chức năng của một kiến trúc sư không thôi thì chỉ giới hạn trong việc tổ chức không gian cho thuận tiện, hợp lý, xem xét sự thông thoáng, hình khối, tỷ lệ, ánh sáng, hợp cảnh quan và chọn cái đẹp của kiến trúc hợp với tâm lý và yêu cầu của người sử dụng. Nhưng đôi khi lại không khắc phục được những tác động của không gian từ bên ngoài lớn hơn đến con người đang sống. Xem có vẻ như siêu hình mà môn Phong thuỷ đã quan tâm tới nó: Đó là năng lượng của vũ trụ (trường lực vũ trụ), năng lượng của Trái đất (trường lực Trái đất) và năng lượng trong con người (điện sinh học) luôn luôn tương hỗ, tác động và chế ức lẫn nhau, gộp chung lại gọi là trường khí, tổng khoát là Phong thuỷ. Do đó, nếu kiến trúc sư có thêm được một phần kiến thức về môn Phong thuỷ thì việc tổ chức không gian trong kiến trúc công trình sẽ mang lại nhiều điều tốt đẹp và thuận hơn cho môi trường sống của con người. Những vấn đề của Phong thuỷ không có gì là thần bí, hư vô cả, từ 6000 năm trước trong Kinh Dịch của người Trung Hoa cổ đều đã nêu lên các vấn đề đó và trở thành một pho lý thuyết và thực hành. Tất nhiên để tinh thông nó ta phải nghiên cứu, khổ công học nhiều năm, có khi cả đời người. Vừa đọc vừa chiêm nghiệm và mạnh dạn ứng dụng nó trong đời sống thực tại mới là bí quyết của thành công.

KTS. Đoàn Đức Thành: Chúng ta đều biết năng lượng vũ trụ đến từ Mặt trời, Mặt trăng, các hành tinh lớn, các chòm sao và các thiên thể lớn nhỏ khác v.v … dưới dạng sóng từ hay quang năng đều tác động đến con người sống trên Trái đất. Năng lượng sống của Trái đất gồm từ trường của Trái đất, sức hút trọng trường, sóng địa chấn và lực địa chất cũng đều ảnh hưởng đến mọi người chúng ta. Thế thì ai mà không chịu tác động như nhau?KTS. Phùng Đạo Hợp: Phong thuỷ có lý thuyết chuyên sâu để giải thích vấn đề này, song để hiểu và nắm bắt được nó, vận dụng nó để đáp ứng được nó trong cuộc sống hàng ngày của con người không phải dễ. Chúng ta ai cũng biết rằng trong vũ trụ bao la, các thiên thể, các hành tinh lớn nhỏ đều phát ra các trường sóng lan toả khắp chu thiên (bầu trời), cộng với trường lực của Trái đất chúng ta đang nương tựa để sinh tồn. Chúng ta và tất cả mọi thứ có ở trên bề mặt Trái đất này đều sống trêm thảm từ trường của Trái đất, chịu tác động từng giờ từng phút của trường vũ trụ. Trường động biến thành sóng. Trường điện từ dao động biến thành sóng từ. Trường chỉ vĩ mô mà sóng và hạt là chỉ vi mô. Con người và các sinh thể sinh ra cũng mang trong mình một trường, gọi là trường nhân thể, ta thường gọi là điện sinh học, mỗi một sinh thể trường với mức độ mạnh yếu khác nhau, sẽ hợp với hướng trường của Trời – Đất không như nhau, người ta gọi là cung mạng. Với sự tác động thay đổi v truyền dẫn của điện nhân thể bất cứ lúc nào bởi cảm ứng với từ trường quả đất hình thành sự tác động tương hỗ ảnh hưởng lẫn nhau sinh ra thuận hay nghịch, tốt hay xấu. Vậy mỗi người do có điện sinh học, trường nhân thể hợp hướng trường Nam Bắc, Đông và Đông – Nam, được gọi là Đông mạng, sẽ bị hướng trường Tây – Nam, chính Tây và Tây – Bắc và Đông – Bắc xung khắc (Tây hướng). Người hợp với Tây hướng gọi là Tây mạng, ngược lại, lại bị 4 Đông hướng xung khắc. Với từ trường vô hình tồn tại, mà sự thuận khắc tác động lên chúng ta, chúng ta không thể chế ngự lại được, mà cũng nên biết và thuận theo nó, xúc tác biến hoá nó là tốt nhất. Do đó, với cung mạng hợp hướng, khắc hướng mỗi nhân thể một khác. Vậy mới có việc chọn hướng làm nhà để thuận hợp khí trường Trời – Đất và sắp xếp bên trong nội thất cũng là yếu tố cần thiết cho bất kỳ ai. Do vậy, mà đòi hỏi kiến trúc sư cần hiểu biết mang kiến thức này nhằm tính toán thiết kế để giúp thân chủ của mình có được chỗ ở tốt, tạo được chỗ sinh sống hàng ngày thuận thiên, đem lại điều tốt cho sức khoẻ, trí tuệ; hanh thông trong công việc, tài lộc thuận lợi, con cái phát triển, tiến bộ; gia đình hoà thuận, tránh các tai hại không đáng xảy ra.KTS. Đoàn Đức Thành: Qua phân tích đã chứng tỏ vận và mạng của một đời người luôn gắn liền và chịu tác động của môi trường chung quanh. Từ thiên nhiên rộng lớn đến mọi khoảng không gian nho nhỏ mà ta đang sống đều chịu tác động của một sức mạnh vô hình chế ngự. Vậy để cho điều kiện sống của con người trong môi trường sống được tốt đẹp hơn, Phong thuỷ có thể tác động vào môi trường sống của con người đến mức nào?KTS. Phùng Đạo Hợp: ứng dụng thuật Phong thuỷ là một kỹ năng có tính khoa học, có logic chặt chẽ theo quy luật nhất định mà tiền nhân không ngừng đúc rút tổng kết trở thành một lý thuyết, nó như thể một đạo luật của vũ trụ mà ai biết tuân thủ nó sẽ đem lại lợi lạc hanh thông. Để hoá giải sự sống của từng con người đối với từng trường hợp với môi trường chung quanh, chẳng hạn như ngôi nhà ta ở, từ hường nhà, cửa ra vào, đường đi lối lại, bếp núc, nơi ngủ, gian thờ, bể ngầm chứa nước sạch, bể xí tự hoại v.v … bố trí ở các vị trí khác nhau, hướng khác nhau trong một ngôi nhà thì mô hình năng lượng cũng có khác nhau rất nhiều. Hơn nữa mỗi người có riêng mình một ngày tháng năm sinh nên cung mạng hợp với các nhóm cung hướng cũng khác nhau. Tất cả gộp lại trong một không gian sống quả là rối như một mớ canh hẹ. Nhà Phong thuỷ có nhiệm vụ gỡ rối, sắp xếp lại cho hợp với hướng trường cung mạng. Sắp xếp lại đường cấp nước sạch vào, đường thoát nước thải ra, lối giao thông trong ngôi nhà. Xoay bếp, chỉnh hướng ngủ hợp với từng thành viên trong gia đình. Sắp xếp vị trí đặt bàn thờ, hướng thờ, chỗ làm việc, góc học tập, nơi tiếp khách, v.v … nhằm đem lại tất cả điều tốt lành cho chủ nhân và các thành viên sống trong một gia đình ở cùng một không gian ngôi nhà.KTs. Đoàn Đức Thành: Với một bề dày tìm hiểu, khảo sát thực tế trong nhiều năm, anh có thể nêu lên một số điểm thiết yếu trong thuật Phong thuỷ đang thịnh hành ở trong nước cũng như một số nước Châu á hiện nay?

KTS. Phùng Đạo Hợp: Các nhà Phong thuỷ thường tiến hành theo các bước sau: Trước hết, xác định tuổi qua năm tháng ngày sinh để tính toán cung hướng mạng cho từng người. Mỗi người đều có năm, tháng, ngày, giờ sinh của mình. Và mỗi năm đều có một sao quản vận. Sao quản vận chiếu mạng (theo Tam nguyên cửu vận) thì con người mang trường sinh mạng của sao đó. Theo hình đồ 9 sao phối 8 cung hướng của Bát quái (trùng với từ trường Nam Bắc của Trời – Đất và chia ra 8 hướng chính). Mỗi cung hướng mang một thuộc tính ngũ hành khác nhau. Hệ sóng từ quy nạp vào 9 sao cũng tồn tại, luôn luân chuyển, thay đổi vị trí theo một quỹ đạo nhất định. Chín ngôi sao đó được mang tính chất khí với thuộc tính ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ (theo Tử vi. Mỗi người còn được đặt vào một cung hướng nhất định của Bát quái đồ gọi cung mạng: Có mạng Càn, mảng Khảm, mạng Cấn, mạng Chấn, mạng Tốn, mạng Ly, mạng Khôn, mạng Đoài. Tính từ năm sinh tra bảng (Tra bảng ) ta sẽ biết được cung mạng của mỗi người nằm trong cung hướng nào. 1/ Hướng Tây-Bắc, cung Càn thuộc Kim; Dương Âm Nam Nữ 1920 Canh Thân Cấn Đoài 1921 Tân Dậu Đoài Cấn 1922 Nhâm Tuất Càn Ly 1923 Quý Hợi Khôn Khảm 1924 Giáp Tý Tốn Khôn 1925 ất Sửu Chấn Chấn 1926 Bính Dần Khôn Tốn 1927 Đinh Mão Khảm Cấn 1928 Mậu Thìn Ly Càn 1929 Kỷ Tỵ Cấn Đoài 1930 Canh Ngọ Đoài Cấn 1931 Tân Mùi Càn Ly 1932 Nhâm Thân Khôn Khảm 1933 Quý Dậu Tốn Khôn 1934 Giáp Tuất Chấn Chấn 1935 ất Hợi Khôn Tốn 1936 Bính Tý Khảm Cấn 1937 Đinh Sửu Ly Càn 1938 Mậu Dần Cấn Đoài 1939 Kỷ Mão Đoài Cấn 1940 Canh Thìn Càn Ly 1941 Tân Tỵ Khôn Khảm 1942 Nhâm Ngọ Tốn Khôn 1943 Quý Mùi Chấn Chấn 1944 Giáp Thân Khôn Tốn 1945 ất Dậu Khảm Cấn 1946 Bính Tuất Ly Càn 1947 Đinh Hợi Cấn Đoài 1948 Mậu Tý Đoài Cấn 1949 Kỷ Sửu Càn Ly 1950 Canh Dần Khôn Khảm 1951 Tân Mão Tốn Khôn 1952 Nhâm Thìn Chấn Chấn 1953 Quý Tỵ Khôn Tốn 1954 Giáp Ngọ Khảm Cấn 1955 ất Mùi Ly Càn 1956 Bính Thân Cấn Đoài 1957 Đinh Dậu Đoài Cấn 1958 Mậu Tuất Càn Ly 1959 Kỷ Hợi Khôn Khảm 1960 Canh Tý Tốn Khôn 1961 Tân Sửu Chấn Chấn 1962 Nhâm Dần Khôn Tốn 1963 Quý Mão Khảm Cấn 1964 Giáp Thìn Ly Càn 1965 ất Tỵ Cấn Đoài 1966 Bính Ngọ Đoài Cấn 1967 Đinh Mùi Càn Ly 1968 Mậu Thân Khôn Khảm 1969 Kỷ Dậu Tốn Khôn 1970 Canh Tuất Chấn Chấn 1971 Tân Hợi Khôn Tốn 1972 Nhâm Tý Khảm Cấn 1973 Quý Sửu Ly Càn 1974 Giáp Dần Cấn Đoài 1975 ất Mão Đoài Cấn 1976 Bính Thìn Càn Ly 1977 Đinh Tý Khôn Khảm 1978 Mậu Ngọ Tốn Khôn 1979 Kỷ Mùi Chấn Chấn 1980 Canh Thân Khôn Tốn 1981 Tân Dậu Khảm Cấn 1982 Nhâm Tuất Ly Càn 1983 Quý Hợi Cấn Đoài 1984 Giáp Tý Đoài Cấn 1985 ất Sửu Càn Ly 1986 Bính Dần Khôn Khảm 1987 Đinh Mão Tốn Khôn 1988 Mậu Thìn Chấn Chấn 1989 Kỷ Tỵ Khôn Tốn 1990 Canh Ngọ Khảm Cấn 1991 Tân Mùi Ly Càn 1992 Nhâm Thân Cấn Đoài 1993 Quý Dậu Đoài Cấn 1994 Giáp Tuất Càn Ly 1995 ất Hợi Khôn Khảm 1996 Bính Tý Tốn Khôn 1997 Đinh Sửu Chấn Chấn 1998 Mậu Dần Khôn Tốn 1999 Kỷ Mão Khảm Cấn 2000 Canh Thìn Ly Càn 2001 Tân Tỵ Cấn Đoài 2002 Nhâm Ngọ Đoài Cấn 2003 Quý Mùi Càn Ly 2004 Giáp Thân Khôn Khảm 2005 ất Dậu Tốn Khôn 2006 Bính Tuất Chấn Chấn 2007 Đinh Hợi Khôn Tốn 2008 Mậu Tý Khảm Cấn 2009 Kỷ Sửu Ly Càn 2010 Canh Dần Cấn Đoài 2/ Hướng Bắc, cung Khảm thuộc Thuỷ; 3/ Hướng Đông-Bắc, cung Cấn thuộc Thổ; 4/ Hướng Đông, cung Chấn thuộc Mộc; 5/ Hướng Đông-Nam, cung Tốn thuộc Mộc; 6/ Hướng Nam, cung Ly thuộc Hoả; 7/ Hướng Tây-Nam, cung Khôn thuộc Thổ; 8/ Hướng Tây, cung Đoài thuộc Kim Bảng (Xem bảng )Năm sinh Cung Mạng

Cùng năm sinh nhưng do hấp thụ trường khí Đất – Trời của sinh thể nam và nữ khác nhau. Nên có các cung mạng và đặc tính con người nam nữ cũng khác nhau, phần nhiều là đối nghịch nhau. Thứ hai, phân nhóm cung hướng và cung mạng. Trong 8 hướng của cung Bát quái đồ chia ra hai nhóm là Đông tứ hướng và Tây tứ hướng. Đông tứ hướng gồm có hướng Bắc (cung Khảm), hướng Đông (cung Chấn), hướng Đông – Nam (cung Tốn), hướng Nam (cung Ly). Nhà có cửa chính mở về 4 hướng trên gọi là nhà Đông tứ trạch. Cung mạng ai nằm trong 4 cung trên thuộc nhóm Đông tứ mạng và trường khí của 4 cung hướng là hợp tốt. Tây tứ hướng gồm có 4 hướng Tây – Bắc (cung Càn), hướng Tây (cung Đoài), hướng Tây – Nam (cung Khôn) và hướng Đông – Bắc (cung Cấn). Nhà có cửa chính mở về 4 hướng này gọi là nhà Tây tứ trạch. Cung mạng ai nằm trong 4 cung trên thuộc nhóm Tây tứ mạng và hợp tốt ở 4 hướng này. Như vậy, người thuộc nhóm Đông tứ mạng hợp với nhà Tây tứ trạch (Tây tứ hướng) đều được hưởng từ trường tốt, gọi là hợp hướng và tạo được nhiều điều thuận lợi cho sức khoẻ và tốt lành trong cuộc sống. Ngược lại, người Đông tứ mạng ở nhà Tây tứ trạch và người Tây tứ mạng ở nhà Đông tứ trạch gọi là trái hướng, thì ắt sẽ xảy ra sự xung khắc, bởi từ trường cung hướng với cung mạng khắc nhau sẽ xảy ra sự không tốt đẹp cho sức khoẻ, không thuận lợi cho công việc, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt và sự phát triển lâu dài. Với Bát quái đồ chia theo 8 cung hướng trùng hợp với từ trường cung hướng Trái đất, nhà mở cửa hướng theo 8 cung đó gọi chung là bát trạch. Mỗi trạch đều mang một thuộc tính ngũ hành khác nhau là Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Cung mạng của mỗi người nằm ở cung hướng nào thì cũng mang đặc tính từ trường và ngũ hành ở cung hướng đó. Do đó, sự phối hợp cung mạng với các cung hướng khác, với 8 hướng của bát trạch thì sẽ xảy ra 8 trường hợp xung khắc và hoà hợp khác nhau (gọi là bát san phối mạng). Bát san tốt là: Sinh khí, Diên niên, Thiên y, Phục vị. Bát san xấu là: Tuyệt mạng, Ngũ quỷ, Lục sát, và Hoạ hại.

Phục vị Tây-Bắc

Lục sát Bắc Thiên y Đông-Bắc

Sinh Khí Tây

Ngũ quỷ Đông

Tây-Nam Diên niên

Nam Tuyệt mạng Đông-Nam Hoạ hại

Người cung mạng Càn (Tây-Bắc)

Lục sát Tây-Bắc Phục vị Bắc Ngũ quỷ Đông-Bắc

Thiên y Đông

Tây-Nam Tuyệt mạng

Nam Diên niên Đông-Nam Sinh Khí

Người cung mạng Khảm (chính Bắc)

Thiên y Tây-Bắc Ngũ quỷ Bắc Phục vị Đông-Bắc Diên niên Tây

Lục sát Đông

Tây-Nam Sinh Khí

Nam Hoạ hại Đông-Nam Tuyệt mạng

Người cung mạng Cấn (Đông-Bắc)

Ngũ quỷ Tây-Bắc

Lục sát Đông-Bắc

Tuyệt mạng Tây

Phục vị Đông Tây-Nam Hoạ hại

Nam Sinh Khí Đông-Nam Diên niên

Người cung mạng Chấn (Đông) Hoạ hại Tây-Bắc Sinh Khí Bắc Tuyệt mạng Đông-Bắc

Diên niên Đông

Tây-Nam Ngũ quỷ

Nam Thiên y Đông-Nam Phục vị

Người cung mạng Tốn (Đông-Nam)

Tuyệt mạng Tây-Bắc Diên niên Bắc Hoạ hại Đông-Bắc

Sinh Khí Đông

Tây-Nam Lục sát

Nam Phục vị Đông-Nam Thiên y Người cung mạng Ly (Nam)

Diên niên Tây-Bắc Tuyệt mạng Bắc Sinh Khí Đông-Bắc

Hoạ hại Đông Tây-Nam Phục vị Nam Lục sát Đông-Nam Ngũ quỷ

Người cung mạng Khôn (Tây-Nam)

Sinh Khí Tây-Bắc Hoạ hại Bắc Diên niên Đông-Bắc

Tuyệt mạng Đông Tây-Nam Thiên y Nam Ngũ quỷ Đông-Nam Lục sát

Người cung mạng Đoài (Tây)

Mỗi bát sát phối mạng và hướng đều tạo ra một từ trường khí, có sự tác động tương hỗ, có tốt, có xấu.KTS. Đoàn Đức Thành: Anh có thể nói rõ thêm về các khí tốt, các khí xấu và phân khu chức năng trong ngôi nhà đạt yêu cầu tốt nhất về Phong thuỷ?KTS. Phùng Đạo Hợp: Các khí tốt gồm có: Sinh khí: Chủ việc vượng tốt cho con người, có lợi cho người con trai, lợi cho danh tiếng, tạo ra được sức sống dồi dào cho con người, mọi sự việc luôn luôn sinh sôi nảy nở, tính dục mạnh mẽ. Nếu Sinh khí ở vào khu vệ sinh, phòng kho đồ vặt thì xảy ra thất nghiệp, đẻ non, nhiều bệnh tật. Thiên y: Chủ về sức khoẻ tốt, lợi cho phụ nữ, vượng tài lộc, tiêu trừ bệnh tật, tâm tính ổn định, có giấc ngủ ngon lành, thường có quý nhân bên ngoài giúp đỡ, luôn luôn đổi mới. Nếu Thiên y ở vào khu vệ sinh, phòng kho đồ lặt vặt sẽ mắc bệnh kinh niên, chứng ung thư. Diên niên: Hoà thuận, tốt cho sự nghiệp và ngoại giao, với các mối quan hệ khác; vợ chồng thuận hoà, tuổi thọ tăng thêm, bớt kẻ kình địch, tính tình hoà dịu, kiên trì, tăng sức thuyết phục; với nữ giới có bạn đời tốt. Nếu Diên niên ở vào khu vệ sinh, phòng kho đồ vặt: xảy ra cãi vã thị phi, nhà cửa không yên ổn. Phục vị: Bình yên, trấn tĩnh, có lợi để ban thờ. Vững vàng cho chủ nhà, tình duyên nam nữ gắn bó; khả năng kiếm ra tiền tốt; quan hệ gia đình với cha, mẹ, vợ, con tốt, nhưng tính dục sẽ giảm sút. Nếu nơi Phục vị có khu vệ sinh, phòng kho đồ vặt thì tính tình gia chủ nóng nảy, luôn luôn cảm thấy mất yên ổn. Các khi xấu bao gồm: Tuyệt mạng: ở vào cung Tuyệt mạng là khu vệ sinh, phòng kho đồ vặt thì chủ nhà sẽ có sức khoẻ tốt, tuổi thọ tăng thêm, duyên phận con cái tốt, có tài vận. Nếu cung Tuyệt mạng ở vị trí tốt: Chủ nhân mắc chứng bệnh khó chữa, mổ xẻ, bị đao thương, đụng xe, mất trộm, trong người cảm thấy không yên ổn, mọi việc đều tính toán quá đáng, buồn phiền, đau khổ, u sầu, nói ít, bị ức chế sinh bệnh tâm thần, duyên phận con cái bạc bẽo. Ngũ quỷ: Cung Ngũ quỷ là buồng vệ sinh, phòng kho đồ vật thì có thể biến điều xấu thành điều tốt đẹp. Nếu Ngũ quỹ ở vào vị trí tốt (cửa ra vào, buồng ngủ và bếp) thì các sự việc lôi thôi và tai hoạ vô cớ ập đến; người nhà mổ xẻ, ung thư; tai tiếng thị phi; mất trộm; phá sản; quan tai, người nhà đau yếu liên miên; đề phòng hoả hoạn. Lục sát: Cung Lục sát ở buồng vệ sinh, phòng kho đồ vặt thì người trong nhà có những suy nghĩ đúng đắn, có số đào hoa và có lợi cho tình duyên. Nếu Lục sát ở vào các vị trí tốt thì tình duyên sẽ tráo trở, người ở không yên, vợ chồng thường cãi vã lẫn nhau, trong người phiền não, lắm điều thị phi, mất ngủ, sự nghiệp trắc trở. Riêng với nam giới thì không lo làm ăn, hay rượu chè, cờ bạc. Hoạ hại: Cung Hoạ hại ở buồng vệ sinh, phòng kho đồ vặt thì người trong nhà yên ổn, hoà thuận, sức khoẻ tốt đẹp, làm việc tự tin hơn, hoà nhã với người ngoài, không xảy ra quan sự, tài vận tốt. Nếu Hoạ hại ở vào các vị trí tốt thì trong nhà thường gây chia rẽ, quan tai. Tiểu nhân, tai tiếng thị phi, mệt mỏi bởi những việc vụn vặt, cơ thể suy nhược, mất tự tin, rời rạc, thường gây gổ, thưa kiện với người ngoài, thất tài, nhiều bệnh tật.KTS. Đoàn Đức Thành: Anh đã nói một mạch những vấn đề rất hay, nghe rất có lý. Hiện nay, nhiều người rất quan tâm đến cách đặt hướng nhà. Anh có thể nêu lên một số điểm cốt yếu có thể áp dụng được?KTS. Phùng Đạo Hợp: Trong bảng tra cung mang trên có thể biết được tất cả cung mạng của mọi người. Ai có cung mạng trùng với phương vị cung Bát quái của căn nhà gọi là vị trí Phục vị. Từ cung Phục vị đem so sánh xem xét mối tương quan giữa nó với 7 cung khác. Xảy ra sự khắc hợp khác nhau giữa hai nhóm Đông mạng và Tây mạng. Vậy trong một gia đình bao gồm nhiều thành viên, gồm ông bà, cha mẹ và con cháu. Với tổ hợp một gia đình nhiều người như vậy, không thể có tất cả đều nằm trong một cung mạng, tổ hợp tốt thì cùng một nhóm Đông tứ mạng, tổ hợp tốt thì cùng một nhóm Đông tứ mạng hoặc cùng một nhóm Tây tứ mạng cũng đã ít, thường có ở cả hai nhóm mạng cùng sống trong một ngôi nhà. Do đó, với một căn nhà thuộc Đông tứ trạch thì phù hợp với nhóm người Đông tứ mạng và khắc sát với nhóm người Tây tứ mạng, và ngược lại. Tây tứ trạch khắc sát với nhóm người Đông tứ mạng. Như vậy, trong một căn nhà thường xảy ra hợp và tốt với người này lại khắc sát với người kia. Thuật Phong thuỷ không chỉ thấy được vấn đề, mà còn có khả năng biến hoá, giải trừ (gọi là hoá giải) ở phương vị vùng có từ trường khắc sát, gọi là khí xấu mà làm cân bằng lại nó, và làm tăng thêm khí tốt cho toàn nhà. Quan điểm cho là xấu đều còn hơn tốt lỏi, quả là hợp lý.KTS. Đoàn Đức Thành: Anh cho biết cụ thể hơn về một số điểm cốt yếu trong ngôi nhà mà ai cũng có thể áp dụng được?KTS. Phùng Đạo Hợp: Thông thường với một ngôi nhà, dù hướng nhà hợp hướng hay không hợp hướng với cung mạng của chủ nhà thì cũng áp dụng xem xét: – Bàn thờ được xếp đặt quay mặt về một trong bốn hướng tốt của cung mạng chủ nhân đứng thờ. – Bếp nấu: Có vị trí đặt bếp đun xoay cho được cửa ông Táo (cửa lò bếp, núm vặn bếp ga, nút tắt mở điện của bếp điện, chỗ vặn điều khiển của bếp dầu v.v …) về một trong 4 hướng tốt của cung mạng chủ nhà. – Giường ngủ: Khi đi ngủ, người Đông mạng ngủ chân đạp về một trong 4 Đông hướng. Người Tây mạng thì chân đạp về một trong 4 Tây hướng (đầu nằm ngược lại). – Chỗ ngồi làm việc, tiếp khách: Dù ở cơ quan, cửa hàng, phòng khách hay ở bất kỳ nơi nào, người Đông mạng ngồi ở vị trí mặt xoay về một trong 4 Đông hướng. Người Tây mạng ngồi ở vị trí quay mặt về một trong 4 Tây hướng mới thu được khí tốt.KTS. Đoàn Đức Thành: Nghe nói Thuỷ pháp cũng là một trong những yếu tố quan trọng, anh có thể nói thêm về điều này?KTS. Phùng Đạo Hợp: Có hướng rồi, nhà đó có khí hay không còn phụ thuộc vào cách sắp đặt Thuỷ pháp của căn nhà theo thuật Phong thuỷ. Tiền nhân đã tổng kết: “Cư trạch Đương thôi hướng Thuỷ vi tốt yếu” (nhà ở xem xét hướng nước là quan trọng nhất). Tất cả có 28 hướng Thuỷ pháp cho 8 hướng chính của ngôi nhà ở, nó rất chặt chẽ theo từng hướng độ (theo la bàn đo được) của hướng nhà mà định. Thuỷ pháp gồm có Lai thuỷ, tức nước cấp vào (còn gọi là long mạch nhập) và Phóng thuỷ, nước thải thoát ra. Hai yếu tố này rất cần cho bất kỳ một ngôi nhà nào. Làm đúng cách xuất nhập thì khí tốt tràn đầy cho ngôi nhà, chủ nhân được hưởng cát khí. Nếu làm sai lệch thì sự may mắn, cát khí sẽ giảm sút hoặc mất đi, nhà sẽ mất khí, ảnh hưởng xấu cho chủ nhà. ở đây còn được xem xét bởi đường nước chảy tự nhiên hay cống rãnh trước mặt ngôi nhà, chảy từ trái qua phải hoặc chảy từ phải sang trái ở phía trước nhà. Đó là những yếu tốt vô cùng quan trọng để sắp đặt hệ thống cấp thoát nước cho căn nhà và công trình. Người kiến trúc sư biết được điều này và vận dụng thông thạo sẽ mang lại khí tốt cho ngôi nhà. Đây là vấn đề phức tạp nên khó có thể giải đáp một cách cụ thể để vận dụng được ngay.KTS. Đoàn Đức Thành: Trong Phong thuỷ cũng hay nói đến Sơn và Hướng. Mối quan hệ của Sơn Hướng trong nhà ở như thế nào?KTS. Phùng Đạo Hợp: Danh từ đó nói đúng hơn là “Toạ Sơn và Hướng”. Toạ Sơn là phía sau, chỗ tựa của ngôi nhà. Hướng là phía trước, mở cửa ra vào chính của ngôi nhà. Lý luận Phong thuỷ lấy Sơn xem về “nhân định” tức con người. Con người trong ngôi nhà đó có tốt, khoẻ mạnh, phát triển hay không thì Toạ Sơn phải cao, vững chãi, kín đáo tốt hơn là thông thoáng. Toạ Sơn sau nhà mà thấp hơn trước, nghiêng về hậu thì người nhà không yên, thường trắc trở trong sự nghiệp, hay gặp tiểu nhân thị phi, quan tụng tổn tài, có bệnh quái kỳ khó chữa, người nhà tư duy về buôn bán kém cỏi. Với Toạ Sơn còn rất nhiều cần biết, ở đây tôi chỉ đơn cử như vậy thôi. Hướng trước hết xem chọn cho hợp cung mạng của chính chủ nhân, tốt cho các thành viên trong gia đình, có xung khắc thì cũng chọn hướng khắc nhẹ thôi thì gia đình mới được yên ổn, sự nghiệp công việc hanh thông, tài vận tốt. Còn phía ngoài của Hướng cũng rất phức tạp bởi nhiều yếu tốt môi trường từ đường sá đi lại, hố hầm, cột điện, trạm biến thế, nhà cao tầng án ngữ, cây cối v.v … cũng rất nhiều điều cần được xem xét giải quyết. Sơn và Hướng trong ngôi nhà đề cập ở trên mới chỉ nói đến “bát trạch” tức là 8 hướng của ngôi nhà, còn theo vận hội các trường tác động của vũ trụ là sao chiếu. Trong môn Huyền không phi tinh thì còn quan trong hơn nữa, phức tạp hơn nữa, kiến thức đòi hỏi phải sâu rộng lắm mới giải mx được.KTS. Đoàn Đức Thành: nhiều người làm nhà hiện nay hay quan tâm đến số bậc cầu thang, thướng tính số bậc theo Sinh – Lxo – Bệnh – Tử. Anh thấy vấn đề này thế nào?KTS. Phùng Đạo Hợp: Tôi đã đọc nhiều sách về Phong thuỷ, tôi không thấy sách nào nói về vấn đề này. Theo tôi, cầu thang quan trọng nhất là phân chia các bậc cùng độ cao, bản bậc thang cũng đều nhau để đi lại thuận tiện. Tuy nhiên, những bậc thang dưới cùng không nên hướng thẳng ra ngoài cửa, mà nên hướng sang bên, lối đi theo đường ống của đường nước sạch. Sinh – Lão – Bệnh – Tử được ứng dụng trong nhà ở chỉ có phần mái dốc. Đó là số đòn tay (xà gồ) trên mái. Mái nhà tượng trưng cho một tiểu vũ trụ, vòm trời nhỏ mà con người sống trong đó. Số đòn tay luôn nằm ở trên đè lên con người. Số lượng đòn tay được tính từ đòn đỉnh nóc (Sinh) xuống hai mái bên, tiếp theo thanh thứ 2 là Lão, thứ 3 là Bệnh, đến thanh cuối cùng nằm trong phạm vi lòng nhà, sao cho có thứ tự là Sinh, Lão. Số thanh ở diềm máI ngoài lòng người không tính.KTS. Đoàn Đức Thành: Xin cảm ơn anh, chúng ta sẽ thu thập nhiều câu hỏi xoay quanh vấn đề này và hẹn trao đổi với anh vào dịp tới.

Phật Giáo Và Đời Sống Tâm Linh

PHẬT GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG TÂM LINH

Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt Rọi suốt trăm năm một cõi đi về (Trịnh Công Sơn)

Vào lúc 7 tuổi, trong một tình cờ, Thái tử Tất Đạt Đa tham dự buổi lễ Hạ điền. Trong lúc tham dự và quan sát buổi lễ, Thái tử chợt thấy con giun bị con chim bới đất lên và nuốt sống. Cảnh tượng nầy đã ám ảnh nhiều và Ngài liền suy ngẫm đến mọi sự thật của cuộc đời – đến một thực tế không tránh khỏi sự tàn sát lẫn nhau vì sinh tồn trong chúng sinh, hẳn đây chính là cội nguồn của khổ đau.

Trong một lần khác, nhìn thấy một người già, một người bệnh và một xác chết. Ngài không khỏi ray rứt bởi các cảnh tượng đó và đặt câu hỏi tại sao như vậy. Rõ ràng chính Ngài cũng không tránh khỏi những hoàn cảnh như thế và quyết định bỏ cuộc đời trần tục, phát triển ý thức xa lìa dục lạc phù phiếm của cuộc đời và thúc đầy Ngài theo đuổi một cuộc sống khổ hạnh để tìm chân lý tối hậu, dù cho Ngài đang sống cuộc đời vương giả của thời đại lúc bấy giờ.

Ngài đã nhận thức cái đau khổ gắn liền với cuộc sống của chúng hữu tình và biết rằng dù có thỏa thích với các hương vị của ngũ dục đến đâu đi nữa, sau cùng, rồi cũng phải đối mặt với một thực tế của lão, bệnh, tử. Hiểu được điều này và được khích lệ bởi hình ảnh thong dong từ tốn của nhà tu sĩ thoáng cho Ngài hé thấy con đường giải thoát, con đường an vui hạnh phúc. Bốn cảnh tượng nói trên đã thúc dục ngài sớm thoát ly thế tục bằng con đường xuất gia. Thái từ nhất định rời bỏ cung điện đền đài để ra đi, tìm chân lý, An tịnh và Trường cửu.

Một câu chuyện kể rằng Thái tử và người anh em họ Đề Bà Đạt Đa đang dạo chơi trong vườn ngự uyển của hoàng cung, bất chợt Đề Bà Đạt Đa dương cung bắn rơi một con thiên nga, Thái tử vội nhanh chân đến dành ôm con thiên nga bị thương trong tay, vuốt ve làm cho con chim bớt đau đớn. Đây là thí dụ điển hình về sự bộc lộ lòng từ bi, một quan niệm mà mục tiêu cao cả là quý trọng hạnh phúc và làm dịu đi nỗi đau thương người khác.

Sau khi xuất gia để đi tìm chân lý tối thượng, Ngài phát triển trước tiên về phẩm hạnh giới luật thiền định dưới sự hướng dẫn của hai vị đạo sư nổi tiếng là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta trong sáu năm để đạt giác ngộ. Ngài phát hiện ra rằng với thiền định thuần túy không thôi không thể chấm dứt vĩnh viễn được khổ đau và đã đưa vào một chiều hướng mới là thiền định có mục đích trí tuệ. Với sự khám phá này, Ngài đã đạt đến nhất tâm, hướng tâm vào sự hiểu biết bản chất của sự vật và thấu hiểu chân lý. Sự giác ngộ của Ngài chính là kết quả của sự phối hợp thiền định và trí tuệ.

Trong buổi sáng, trước ngày Thành Đạo, Ngài nhận bát sữa gạo do bà Sujãtã dâng lên. Sau khi thọ xong bữa ăn, Ngài nhịn đói luôn 49 ngày, ngồi yên lặng suy niệm dưới gốc cây Bồ Đề. Vừa lúc bình minh, ngày thứ 49, Ngài chứng đắc Quả Vô Thượng, và trở thành vị Phật lúc ba mươi lăm tuổi bằng những nỗ lực phi thường, Ngài đọc lên một bài kệ, hoan hỷ mô tả sự chiến thắng tinh thần vô cùng vẻ vang rực rỡ.

“… Này hỡi người thợ làm nhà,Như Lai đã tìm được ngườiTừ đáy người không còn cất nhà cho Như Lai nữaTất cả sườn nhà đều gãyCây đòn dong của người dựng lên cũng bị phá tanNhư Lai đã chứng nghiệm Quả Vô Sanh Bất Diệtvà Như Lai đã tận diệt mọi Ái Dục” .

Bài kệ mang nhiều ẩn dụ: Như Lai chính Đức Phật, người thợ là ái dục, sự tự tạo ẩn sâu kín bên trong Ngài, một thành phần luôn luôn hiện hữu bên trong mọi người. Cái gì tạo ra thì có thể tận diệt được. Cái sườn nhà tự tạo chính là các ô nhiễm như tham lam, sâu hận, si mê, ngã mạn, tà kiến, phóng dật, hành vi bất thiện… Cây đòn dong chống đỡ cho sườn nhà là vô minh, một căn nguyện của mọi dục vọng. Sự phá vỡ cây đòn dong vô minh làm bằng chất liệu trí tuệ.

Khi toàn bộ vật liệu xây dựng không cần thiết, người làm thợ trở nên vô dụng, lúc đó mọi sự thể đều bị bỏ lại và chỉ còn lại cái tâm đã đạt đến trạng thái vô vi, vô sanh, bất diệt, Niết Bàn.

Với ý chí sắc đá, với trí tuệ siêu đẳng, lòng bi mẫn trời bể, đức vị tha vô lượng, sự truy tìm chân lý tối hậu của Ngài đã đưa đến sự ra đời của Phật giáo. Cũng chính vì thế ta nhận thức được rằng Phật giáo có nghĩa là “Giáo huấn của một con người Giác ngộ”. Mỗi vị Phật là một con người Giác ngộ, một con người đã nhìn thấy sự vật “như nó là”. Phật giáo xuất hiện trên nền tảng thực tiễn như vậy nên là một tôn giáo dựa trên trí thông minh, khoa học và sự hiểu biết, có mục đích giúp cho thế nhân loại trừ khổ đau và các nguyên nhân tạo nên khổ đau trong một chiều kích thật sâu rộng.

Vậy nhìn từ góc độ của Đạo Phật nguyên chất, mọi hình thức tôn thờ hướng vào các vật thể thiêng liêng bằng lễ lạc, nghi thức cúng bái hay cầu khẩn đều không phải là tính cách Phật giáo.

Có lần Đức Phật nói: “ Nếu một người nào đó có thể loại được khổ đau của mình bằng cách cúng dường, bằng sự tôn kính và cầu nguyện, thì sẽ chẳng còn ai trong thế gian này phải chịu gánh khổ đau cả, bởi vì có ai mà lại chẳng biết bày tỏ sự tôn kính và cầu nguyện. Dù cho họ có thật ngoan ngoãn, biết tôn kính và thực thi nghi lễ đều đặn, thế nhưng trên thực tế thì họ vẫn cứ phải chịu khổ đau. Vì thế nên hết sức hiển nhiên, những thứ ấy nhất định không phải là giải pháp hữu hiện giúp họ tìm thấy sự giải thoát khỏi những khổ đau của chính họ “.

(Giáo sư Buddhadasa, Đại học Queenland – Hoang Phong dịch)

Nhìn trên đại thể mà nói, trong kho tàng giáo lý đồ sộ, ngoài những giáo lý có tính cách của nền đạo đức thực tiễn, được lý giải bằng ngôn ngữ có tính thời đại phổ biến, vẫn còn đó cả phần lớn giáo lý thuộc thế giới bàng bạc cái không khí “huyền chi hựu huyền”, như thể một kính vạn hoa phản chiếu muôn vàn ảnh tượng như thực, như hư, như có như không, mà con người với trí năng thông thường, giới hạn của mình không thể thành đạt sự kiến giải.

Chính vì thế, với tính cách uyên áo thăm thẳm mà giáo lý của Ngài tác động gợi nhiều cảm hứng cho các tầng lớp đại chúng lẫn hàng ngũ tri thức.

Chẳng hạn tiêu biểu thử trích lượt một số quan kiến của các học giả tiếng tăm đương đại trên thế giới và họ đã nói gì:

“… Ngài là người đã dựng nên một hệ thống tôn giáo vô cùng cao thâm huyền diệu. Ngài thuộc về lịch sử tư tưởng thế giới. Ngài là kết tinh của người thiện trí. Bởi vì, đứng về phương diện trí thức, chắc chắn Ngài là một trong những vĩ nhân cao thượng nhất của lịch sử…”

(Tiến sỹ Sri Radha krishman – Phạm Kim Khánh, dịch)

“… Nơi Đức Phật ta thấy rõ ràng là một con người giản dị có tâm đạo nhiệt thành, một mình tự lực phát huy ánh sáng tươi đẹp, một nhân vật sống, một con người như mọi người chứ không phải là một nhân vật thần thoại ẩn hiện trong nhiều truyền thuyết hoang đường… Bao nhiêu quan niệm các thế hệ tân thời đều tương hợp với giáo lý ấy. Đức Phật dạy rằng tất cả những gian lao sầu khổ và bất hạnh trong đời đều do lòng ích kỷ sinh ra. Trước khi có thể trở nên vắng lặng, con người cần phải ngừng sống cho giác quan mình. Rồi từ đó, vượt lên trên tất cả mọi người, Ngài sống cuộc đời siêu nhiên… Đứng với tầm quan trọng của con người trong sự phục vụ, Ngài tỏ ra sáng suốt hơn, và đối với vấn đề trường tồn bất hoại của kiếp nhân sinh, Ngài ít lúng túng hơn trong biện thuyết mập mờ…”

(Giáo sư H.G.Wells: Three Greatest Men in History – Phạm Kim Khánh, dịch)

“Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, đức Phật tuyên bố sự giải thoát, mỗi con người có thể đạt được do chính bản thân mình trong đời sống trên thế giới mà không cần đến sự giúp đỡ của Thượng đế hay thần thánh nào. Ngài nhấn mạnh về giáo lý như lòng tự tin, thanh tịnh, nhã nhặn, giác ngộ, an lạc và lòng thương yêu nhân loại. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của kiến thức, vì không có trí tuệ thì siêu linh nội tâm không thể xâm nhập vào đời sống của Ngài được.

Từ lúc thành đạo, năm ấy Ngài đúng ba lăm tuổi, đến khi Đại Niết Bàn lúc tám mươi tuổi. Trong suốt thời gian bốn mươi lăm năm Đức Phật không ngừng phục vụ nhân loại bằng giáo pháp và bằng tấm gương chính đời sống Ngài. Khi đến nơi này, lúc đến nơi kia để truyền bá giáo pháp và dẫn dắt nhiều người thoát vòng cương tỏa luân hồi.

Trong những mùa mưa lũ, nước dâng cao, đường sá ngập lụt, thông thường Đức Phật và các đệ tử được cung thỉnh về an cư kiết hạ ở các tu viện hay những khu vườn ẩn dật hoặc rút vào rừng sâu. Những lúc như vậy dân chúng tại địa phương đó theo chân Ngài để nghe giảng pháp.

Giáo pháp của Ngài là những lời dạy có nội dung bắt nguồn từ Chứng pháp mà Chứng pháp là sự nội chứng sâu thẳm, thấu suốt đến tận rốt ráo của vạn pháp (hiện tượng – sự vật), vượt quá so đo, tính toán của thế trí. Giáo pháp chỉ dạy những sự thật của cuộc sống an lạc hạnh phúc, sự thật của phẩm giá cao thượng nơi con người, sự thật đó có sức mạnh chuyển hóa sự ham mê đời sống vật chất, tình tiền, nhục dục…

Vì Chứng pháp quá sâu thẳm, quá lớn rộng nên khi diễn đạt Đức Phật thường dùng các pháp dụ, tức là các ví dụ phù hợp với hoàn cảnh, với thời đại. Ngài là bậc Vô thượng giác, là trí tuệ siêu việt trần thế nên sự giảng dạy đạt đến mức toàn hảo, có công năng làm sống dậy bản chất cao thượng của tâm hồn, là phương thuốc trị bệnh tâm linh cho con người, một căn bệnh trầm kha do tâm lý khao khát ái dục, đã ăn sâu qua vô số đời sống, tạo nên một hấp lực mang nặng chiều hướng bản năng nguyên thủy.

Ngài đi từ những kinh thành lộng lẫy đến những làng mạc xa xôi, ròng rã suốt 45 năm không mệt mỏi. Với hành trang gồm một bình bát, khất thực, với ba tấm y để che thân, đôi chân trần, đầu không nón suốt bốn mùa mưa nắng. Ngài thuyết pháp bằng đủ mọi phương tiện, đều không ngoài mục đích với lòng thương chúng sinh vô hạn.

Đức Phật Nhập Diệt năm 543 trước Tây Lịch vào ngày trăng tròn tháng Vesak, với lời di huấn tối hậu ngắn ngủi “ Hãy nghe đây, này các đệ tử, Như Lai khuyên các con. Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy tận lực liên tục chuyên cần “. Đến bây giờ đã gần 26 thế kỷ trôi đi, Đạo pháp của Ngài vẫn cứ rực rỡ chiếu soi như đôi vầng nhật nguyệt.

Sau khi Đức Phật Đại Niết Bàn, các luận sư Phật học lỗi lạc như Ngài Vô Trước, Mã Minh, Long Thọ,… đã phân định Pháp giới để giảng giải theo hai cảnh giới:

+ Chân thật giới hay thế giới tuyệt đối gồm các pháp “vô vi” mang tính cách siêu hình không thể nhận biết qua giác quan bằng khả năng tư duy, biện giải mà chỉ qua nhận thức trực giác do công phu thiền định cấp độ cao, tạm gọi là trí vô phân biệt, không thể nghỉ bàn, và chỉ còn là sự im lặng.

Trung Quán Tông cho rằng thế giới tuyệt đối là Tánh Không. Khái niệm về Tánh Không có hai phạm vi khác nhau: Một mang tính triết học và khoa học nói lên bản chất tối hậu của hiện thực; hai là tính thực dụng xem như một phương tiện hiện hữu đến hóa giải mọi sự bám víu, dính mắc mang lại những rối loạn và khổ đau.

Đức Phật nêu lên Tánh Không như một thể dạng tối thượng của tâm thức và chính Ngài đã xác nhận mình luôn luôn thường trú trong Tánh Không.

Trên phương diện tu tập, người học Phật đã không ngừng kinh ngạc trước các khái niệm mà Đức Phật đã khám phá ra cách đây ngót 26 thế kỷ, nên đã đặt sự xác tín nơi những gì mà người đi trước đã trải nghiệm truyền đạt lại, trong đó chủ yếu là lời dạy của chư Phật, chư Bồ Tát. Đức Phật có lần dạy: “ Tin ta mà không hiểu ta là phỉ báng ta”.

Vì thế cho nên từ lúc bước chân vào học đạo, chúng ta phải vận dụng lý trí để hiểu rõ lời Phật dạy, tiếp đó suy niệm xem lời dạy có phải là chân lý (sự thật) không. Và sau rốt lại, khi sự xác tín đã vững vàng, chúng ta nỗ lực hành trì để một ngày nào đó chính ta chứng thực được niềm xác tín đó. Đây quả một sự thách đố cho chính bản thân với những ai có tấm lòng tu học trên mỗi chặng đường tu chứng.

Rõ ràng, niềm xác tín của những thế hệ học Phật, tu Phật, xưa nay ở những gì mà Đức Phật giảng dạy đã đem đến một sự thành tựu lớn lao hơn nhiều so với những gì mà ta chấp là xác thực đem lại cho đời sống hiện thực.

Một ví dụ rất gần gũi: Tin nơi Luật Nhân – Quả:

– Ở cấp độ thô thiển: bây giờ ăn mặn nhiều thì lát sau sẽ thấy khát nước.

– Ở dạng sâu sắc siêu hình hơn, luật Nhân – Quả được thể hiện trong mối quan hệ giữa ba thời quá khứ – hiện tại – vị lai; giữa thế hệ trước và thế hệ sau: Rau nào thì sâu nấy; Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh. Có thể khái quát nói rằng cái gì “đang là” thế nầy thì phải tiến tới nó “sẽ là” thế ấy, nếu không có sự tác động nội tại hay ngoại tại. Một tiến trình như thế sẽ hé lộ cho ta thấy: cái “sẽ là” ở trong cái “đang là”, và cái “đang là” lại có từ các “đã là”. Mối quan hệ biểu trưng hình ảnh của Nghiệp và Chuyển Nghiệp trong nhà Phật.

+ Hiện tượng giới hay tục đế bao hàm sự vật hiện tượng hữu hình hay vô hình mà giác quan con người cảm nhận được như tinh thần, ý chí, tình cảm… có thể khảo sát được qua phương pháp duy nghiệm. Đạo Phật gọi là pháp “hữu vi” biểu thị hiện tượng hình thành do nhân duyên và cũng là đối tượng của khoa học, trung tâm của ngành vật lý. Vì thế nên khoa học có cái cám dỗ mãnh liệt, cái cám dỗ của chân lý khách quan mà lý trí con người có thể vươn tới được. Thực tế cho thấy, khoa học đã đạt nhiều thành quả to lớn trong hơn thế kỷ nay với sự trợ giúp của công nghệ. Đồng thời bộ mặt của nhân loại cũng thay đổi một cách nhanh chóng trong sự thụ hưởng những tiện ích thông qua các tiến bộ kỹ thuật, xây dựng được xã hội văn minh.

Tuy vậy, con người cần bình tĩnh lại để thấy rằng còn biết bao nhiêu câu hỏi cuộc sống mà vẫn chưa có lời giải đáp: Ngẫu nhiên, hỗn độn là cái gì? Làm thế nào mà trật tự lại có thể xảy ra trong một vũ trụ tuân theo luật entropy tăng. Vấn đề “đa thế giới” của lý thuyết “dây” hay “siêu màng”. Đâu là thực tại nhiều chiều (ít nhất là 10 chiều, có một phần của nó biểu hiện ra 4 chiều không – thời gian). Và các chân lý khách quan đó còn nhắc nhở con người giảm bớt lòng tự hào và loại trừ đi những ảo tưởng về khả năng tính của lý trí mà từ lâu đã nặng nợ với tất định luận, với những pháp suy luận duy lý và qui giản hay nói theo Phật học là còn bị ràng buộc trong tính chất chiêu cảm của Nghiệp lực.

Đức Phật nói: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”. Sắc bất dị Không; Tương đối – Tuyệt đối; Ngộ – Mê, đều thể hiện tính cách sự “đẳng cấu” trong Toán học.

Một hình mẫu rất gần với sự hòa hợp giữa cái tương đối và cái tuyệt đối của nhà vật lý Lượng tử đã quá cố David Bohm với ý tưởng thể hiện về cái “trật tự ẩn” và “trật tự hiện” theo thuật ngữ của ông (implicate order & explicate order), Ông là nhà vật lý nổi tiếng làm việc với S.Hawking, R – Penrose nhưng lại có cái nhìn gần với Đạo học Phương Đông.

Ông xây dựng thí nghiệm thế này: Có 2 ống hình trụ đáy kín, cùng trục quay. Ống ngoài cố định, ống trong nhỏ hơn quay được. Đổ vào đó glycerin đầy phần giữa 2 ống. Nhỏ 1 giọt mực vào glycerin, rồi quay ống hình trụ trong. Giọt mực vẽ nên một đường cong mờ dần rồi mất hẳn. Lúc bấy giờ, mỗi điểm trong dung dịch trông thấy đồng nhất. Ông gọi đó là trật tự ẩn. Sau đó, quay ống bên trong theo chiều ngược với một tốc độ thích hợp, giọt mực bất ngờ xuất hiện lại từ hư không, ông gọi đó là trật tự hiện.

Tiếp theo, cho thêm một giọt thứ 2 ở gần giọt mực thứ nhất, rồi quay; giọt thứ 2 và giọt thứ nhất quấn vào nhau và cứ như thế cho đến giọt thứ n. Bây giờ, quay ngược lại với tốc độ hợp lý, giọt thứ 1 tái xuất hiện và lần lượt tiếp thu bởi giọt thứ 2, 3… thứ n. Tất cả chúng đều ở đó.

Ông nói rằng mọi sự kiện quá khứ, hiện tại, vị lai là ở ngay đây, ngay lúc này, nhưng chúng hiện ra tùy vào điều kiện theo cách nào đó. Một số sự kiện trở thành hiện thực, hoặc xảy đến, một số thì không. Nhưng về cơ bản chúng đều ở đó dù chúng ta không thực sự thấy chúng. Đó cũng có nghĩa là sự hòa hợp giữa thế giới tương đối và thế giới tuyệt đối. Và các biểu hiện trong thế giới hàng ngày có vẽ bề ngoài tách bạch chỉ là biểu hiện có điều kiện thích hợp của thế giới tuyệt đối. Chân không mà Diệu hữu. Không tức thị Sắc, Sắc tức thị Không (Bát nhã Tâm Kinh) . Hai thế giới này không phải là hai, nhưng chẳng phải là một.

Thật xúc động với thí nghiệm này (theo cảm nghĩ người viết) một mẫu hình đối chiếu, ở đó Đạo Phật đã không còn xuất hiện như những “tín lý” mà đã xuất hiện dưới những yếu tố xác thực như khoa học đồng thời mở ra nhiều triển vọng để có thể mò mẫm bước vào những chiều kích sâu thẳm tâm linh, vượt qua những khái niệm thông tục về vật chất, về không thời gian và về tương quan một chiều, đã trói buộc chúng ta vào vòng khổ đau không đáng có.

Trong thế giới con người, chúng ta sống tràn ngập trong vọng tưởng và điên đảo. Vọng tưởng là do mê lầm. Do đó vọng tưởng là bị dính mắc vào sự vật, dính mắc vào sự phân chia và cái biết. Chúng ta không thể ở mãi trong cảnh giới tuyệt đối, hay cái Nhất thể, cái Phật tính, mà cũng không thể cứ dính mắc vào thế giới hiện tượng. Chúng ta phải thấy cho được đồng thời cả hai cái tương đối và tuyệt đối và hoạt dụng tự do trong đồng thời cả hai thế giới đó. Đây là sự giải thoát.

Một câu chuyện Thiền: Trước Thiền, đầu tiên thấy núi là núi, sông là sông. Nghĩa là những gì ta nhận thức được là thế giới hiện tượng, mọi thứ được đặc trưng bởi sự khác biệt. Trong lúc đang hành trì Thiền sâu và nắm bắt được sự hòa hợp trong cuộc sống thì đột nhiên núi không còn là núi mà sông cũng chẳng còn riêng sông, chỉ có nhất thể, chỉ có tính duy nhất và lúc này mọi khái niệm phân biệt đều rơi rụng. Sau khi xả Thiền, ta lại thấy núi lại là núi, sông lại là sông như lúc ban đầu, nhưng không còn theo nghĩa tương đối trước khi thực chứng. Điều này nói lên rằng không phải nhận thức là vấn đề, mà là bám chấp sự nhận thức đó là vấn đề.

Trong các kinh điển đều nói lên khái niệm: Tất cả những gì mà chúng ta quán nhận được, hình dung được đều là tâm thức. Điều này có thể diễn dịch, mỗi khi nhận biết một sự vật hiện tượng nào đó thì ngay lúc đó tâm đã gán cho sự vật hiện tượng một nhãn hiệu. Chẳng hạn về 1 lọ cắm hoa hồng. Nhiều người khi đối diện với lọ hoa đã nhào nặn và biến đổi trong tâm thức của từng người, rốt cuộc nó đã trở thành một sản phẩm của chính tâm thức của mỗi người và do đó có thể nói rằng đối tượng lọ hoa không thực sự hiện hữu như chính nó là.

Thông thường khi cảm nhận được các sự vật hiện tượng ở bối cảnh bên ngoài thì sự thu hút của nó sẽ khiến cho tâm thức bám chặt vào hình tướng nó và ta có cảm giác là sự cảm nhận của mình là xác thực. Trạng thái này có hàm một ý nghĩa là tâm thức đã tương tác và hòa nhập với bối cảnh đó, đây chính là lúc tâm thức bị lừa dối và nó sẽ dẫn đến sự duy trì nguyên bản chất sai lầm. Sự sai lầm này của tâm thức, một phần do ta đặt sự quan trọng quá mức vào thế giới bên ngoài; phần khác là sự chi phối thường xuyên bởi tư duy nuối tiếc quá khứ hay sự chiêu cảm của Nghiệp lực.

Thế cho nên hãy tập trung thường trú trong thể dạng tự nhiên là hội nhập với hiện tại. Phương cách này tỏ ra hiệu quả để thực hiện những kinh nghiệm nuôi dưỡng được trạng thái trong sáng của Tâm. Tỉ như hình ảnh mặt nước, lúc bị khuấy động sẽ tạo ra sóng và bọt thì không thấy được sự trong suốt của nó. Vậy hãy hòa mình sống với tâm hồn nhiên, chỉ nghĩ đến thời khắc hiện tại và hòa nhập với thể dạng “phi khái niệm”.

“… Trên sóng lúa, nét chiều thấp thoángMột nét cong xao động tâm hồnTrời khoáng đãng ngây thơ con diều giấyTa thấy mình chưa dễ đã lớn khôn!…”(Hồng Thế)

Khái quát rằng các đối tượng thật sự hiện hữu, thế nhưng chúng không hiện hữu đúng với phong cách mà ta tưởng tượng, cảm nhận về chúng. Nói cách khác, các đối tượng không hề mang thực thể nội tại, hay Tánh Không của chính sự hiện hữu là bản thể tối hậu của nó.

Hiểu biết Tánh Không về mặt trí thức chỉ thực sự có ích khi nhìn thấy thế giới này và cả chính mình đều thay đổi khác đi. Thay đổi để gở bỏ mọi bám víu vào sự vật hiện tượng dưới dạng hình tướng, để chúng tan biến đi, trả lại cho ta một bầu không gian trống không, trong sáng và thanh thoát, mở ra bước chân trên con đường dài thực hiện sự Giác Ngộ. Mong ước đạt sự Giác Ngộ là nền tảng của tỉnh thức, nên việc khởi động nền tảng đó để đạt được mục tiêu mong cầu, chính là Bồ đề tâm.

Sự hiểu toàn vẹn về Tánh Không sẽ có đủ khả năng loại bỏ được vô minh cơ bản (chấp cái tôi và cái của tôi), giải thoát dần những khổ đau, thấy được sự méo mó của tâm thức do hư vọng, do ích kỷ hẹp hòi. Từ đó Bồ đề tâm được phát động và giữ vai trò hết sức quan trọng đối với người học Phật bước vào con đường tâm linh một cách quả quyết.

Kinh Pháp cú có viết rằng:

“Tâm thức dẫn đầu các hiện tượng, chúng nhất thiết là tâm thức, tạo dựng bởi tâm thức”

Rõ ràng, lời dạy của Đức Phật và lời giảng giải của Kinh luận cho thấy bên trong mọi sự vật hiện tượng và phía sau sự dẫn đầu của tâm thức và sự tự tạo dựng ra chính nó sẽ là những gì? Phải chăng là một không gian trống rỗng, “ ở thể dạng hoàn toàn tinh khiết, vô song và tối thượng không có gì vượt hơn cả” mà chính Đức Phật đã thường trú trong đó.

Chúng ta thường mơ màng trên các trang Kinh, cảm nhận được phương tiện thiện xảo của sự cụ thể hóa Tánh Không qua dung nhan sắc màu danh ngôn: Phật tính, Chân Như, Niết Bàn, Pháp Thân, Trí Tuệ Như Lai, Bản thể, Ánh sáng trong suốt trong Cận Tử Nghiệp… Tất cả đều thể hiện như sự tương phản giữa dạng tâm thức giải thoát nhờ an trú trong Tánh Không và tâm thức vô minh ô nhiễm trần tục. Con đường tu tập chính là nỗ lực kiên trì chuyển hóa của tâm thức trong chính chúng ta mà thôi.

“… Để một mai về làm cát bụi Ôi cát bụi tuyệt vời….”(TCS)

(dangconghanh.wordpress.com)

TÀI LIỆU THAM KHẢOĐại Lai Lạt Ma: Tu Tuệ – Hoang Phong biên dịchNXB Hồng Đức, 2013Bernie Glassman: Vòng tròn bất tận. Nguyễn Quyết Thắng dịch NXB Hồng Đức, 2014David Bohm: Tư duy như một hệ thốngTiết Hưng Thái, dịch NXB Tri Thức, 2011

(Thư Viện Hoa Sen)

Phong Thủy Với Đời Sống Và Nhà Ở.doc

PHONG THỦY VỚI ĐỜI SỐNG VÀ NHÀ Ở19/06/2007

“Con người và các sinh thể sinh ra cũng mang trong mình một trường, gọi là trường nhân thể, ta thường gọi là điện sinh học, mỗi một sinh thể trường với mức độ mạnh yếu khác nhau, sẽ hợp với hướng trường của Trời – Đất không như nhau, người ta gọi là cung mạng. Với sự tác động thay đổi truyền dẫn của điện nhân thể bất cứ lúc nào bởi cảm ứng với từ trường quả đất hình thành sự tác động tương hỗ ảnh hưởng lẫn nhau sinh ra thuận hay nghịch, tốt hay xấu.”

Kiến trúc sư Phùng Đạo Hợp, tốt nghiệp khoá 1965 – 1970, Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội. Sau 10 năm hành nghề kiến trúc ở Hà Nội, anh vào Đà Nẵng, Đồng Nai, Tp. Hồ Chí Minh, mấy năm gần đây lại trở về Hà Nội sinh sống. Là kiến trúc sư, song anh cũng là bác sỹ đông y, thông thạo Hán học, và đã dành gần 20 năm nghiên cứu sâu về lịch Pháp, Tướng số, Kinh Dịch, Huyền không học trước khi trở thành “kiến trúc sư Phong thuỷ” – như nhiều người tôn vinh anh. Kiến trúc sư Đoàn Đức Thành có cuộc trao đổi cùng anh về Phong thuỷ với cuộc sống và nhà ở: KTS. Đoàn Đức Thành: Hành nghề kiến trúc, song cũng hành nghề Phong thuỷ, trong hai lĩnh vực này có gì mâu thuẫn không anh? KTS. Phùng Đạo Hợp: Lâu nay tôi vẫn làm hai việc này song song, tuy hai mà là một, vì thiết kế kiến trúc một công trình nào cũng bắt buộc phải hợp logic và phải chính xác, hợp lý trong tổ chức không gian sống và làm việc của con người trong một môi trường tự nhiên. Có điều, nếu đơn thuần với chức năng của một kiến trúc sư không thôi thì chỉ giới hạn trong việc tổ chức không gian cho thuận tiện, hợp lý, xem xét sự thông thoáng, hình khối, tỷ lệ, ánh sáng, hợp cảnh quan và chọn cái đẹp của kiến trúc hợp với tâm lý và yêu cầu của người sử dụng. Nhưng đôi khi lại không khắc phục được những tác động của không gian từ bên ngoài lớn hơn đến con người đang sống. Xem có vẻ như siêu hình mà môn Phong thuỷ đã quan tâm tới nó: Đó là năng lượng của vũ trụ (trường lực vũ trụ), năng lượng của Trái đất (trường lực Trái đất) và năng lượng trong con người (điện sinh học) luôn luôn tương hỗ, tác động và chế ức lẫn nhau, gộp chung lại gọi là trường khí, tổng khoát là Phong thuỷ. Do đó, nếu kiến trúc sư có thêm được một phần kiến thức về môn Phong thuỷ thì việc tổ chức không gian trong kiến trúc công trình sẽ mang lại nhiều điều tốt đẹp và thuận hơn cho môi trường sống của con người. Những vấn đề của Phong thuỷ không có gì là thần bí, hư vô cả, từ 6000 năm trước trong Kinh Dịch của người Trung Hoa cổ đều đã nêu lên các vấn đề đó và trở thành một pho lý thuyết và thực hành. Tất nhiên để tinh thông nó ta phải nghiên cứu, khổ công học nhiều năm, có khi cả đời người. Vừa đọc vừa chiêm nghiệm và mạnh dạn ứng dụng nó trong đời sống thực tại mới là bí quyết của thành công.KTS. Đoàn Đức Thành: Chúng ta đều biết năng lượng vũ trụ đến từ Mặt trời, Mặt trăng, các hành tinh lớn, các chòm sao và các thiên thể lớn nhỏ khác v.v … dưới dạng sóng từ hay quang năng đều tác động đến con người sống trên Trái đất. Năng lượng sống của Trái đất gồm từ trường của Trái đất, sức hút trọng trường, sóng địa chấn và lực địa chất cũng đều ảnh hưởng đến mọi người chúng ta. Thế thì ai mà không chịu tác động như nhau? KTS. Phùng Đạo Hợp: Phong thuỷ có lý thuyết chuyên sâu để giải thích vấn đề này, song để hiểu và nắm bắt được nó, vận dụng nó để đáp ứng được nó trong cuộc sống hàng ngày của con người không phải dễ. Chúng ta ai cũng biết rằng trong vũ trụ bao la, các thiên thể, các hành tinh lớn nhỏ đều phát ra các trường sóng lan toả khắp chu thiên (bầu trời), cộng với trường lực của Trái đất chúng ta đang nương tựa để sinh tồn. Chúng ta và tất cả mọi thứ có ở trên bề mặt Trái đất này đều sống trêm thảm từ trường của Trái đất, chịu tác động từng giờ từng phút của trường vũ trụ. Trường động biến thành sóng. Trường điện từ dao động biến thành sóng từ. Trường chỉ vĩ mô mà sóng và hạt là chỉ vi mô. Con người và các sinh thể sinh ra cũng mang trong mình một trường, gọi là trường nhân thể, ta thường gọi là điện sinh học, mỗi một sinh thể trường với mức độ mạnh yếu khác nhau, sẽ hợp với hướng trường của Trời – Đất không như nhau, người ta gọi là cung mạng. Với sự tác động thay đổi v truyền dẫn của điện nhân thể bất cứ lúc nào bởi cảm ứng với từ trường quả đất hình thành sự tác động tương hỗ ảnh hưởng lẫn nhau sinh ra thuận hay nghịch, tốt hay xấu. Vậy mỗi người do có điện sinh học, trường nhân thể hợp hướng trường Nam Bắc, Đông và Đông – Nam, được gọi là Đông mạng, sẽ bị hướng trường Tây – Nam, chính Tây và Tây – Bắc và Đông – Bắc xung khắc (Tây hướng). Người hợp với Tây hướng gọi là Tây mạng, ngược lại, lại bị 4 Đông hướng xung khắc. Với từ trường vô hình tồn tại, mà sự thuận khắc tác động lên chúng ta, chúng ta không thể chế ngự lại được, mà cũng nên biết và thuận theo nó, xúc tác biến hoá nó là tốt nhất. Do đó, với cung mạng hợp hướng, khắc hướng mỗi nhân thể một khác. Vậy mới có việc chọn hướng làm nhà để thuận hợp khí trường Trời – Đất và sắp xếp bên trong nội thất cũng là yếu tố cần thiết cho bất kỳ ai. Do vậy, mà đòi hỏi kiến trúc sư cần hiểu biết mang kiến thức này nhằm tính toán thiết kế để giúp thân chủ của mình có được chỗ ở tốt, tạo được chỗ sinh sống hàng ngày thuận thiên, đem lại điều tốt cho sức khoẻ, trí tuệ; hanh thông trong công việc, tài lộc thuận lợi, con cái phát triển, tiến bộ; gia đình hoà thuận, tránh các tai hại không đáng xảy ra. KTS. Đoàn Đức Thành: Qua phân tích đã chứng tỏ vận và mạng của một đời người luôn gắn liền và chịu tác động của môi trường chung quanh. Từ thiên nhiên rộng lớn đến mọi khoảng không gian nho nhỏ mà ta đang sống đều chịu tác động của một sức mạnh vô hình chế ngự. Vậy để cho điều kiện sống của con người trong môi trường sống được tốt đẹp hơn, Phong thuỷ có thể tác động vào môi trường sống của con người đến mức nào? KTS. Phùng Đạo Hợp: ứng dụng thuật Phong thuỷ là một kỹ năng có tính khoa học, có logic chặt chẽ theo quy luật nhất định mà tiền nhân không ngừng đúc rút tổng kết trở thành một lý thuyết, nó như thể một đạo luật của vũ trụ mà ai biết tuân thủ nó sẽ đem lại lợi lạc hanh thông. Để hoá giải sự sống của từng con người đối với từng trường hợp với môi trường chung quanh, chẳng hạn như ngôi nhà ta ở, từ hường nhà, cửa ra vào, đường đi lối lại, bếp núc, nơi ngủ, gian thờ, bể ngầm chứa nước sạch, bể xí tự hoại v.v … bố trí ở các vị trí khác nhau, hướng khác nhau trong một ngôi nhà thì mô hình năng lượng cũng có khác nhau rất nhiều. Hơn nữa mỗi người có riêng mình một ngày tháng năm sinh nên cung mạng hợp với các nhóm cung hướng cũng khác nhau. Tất cả gộp lại trong một không gian sống quả là rối như một mớ canh hẹ. Nhà Phong thuỷ có nhiệm vụ gỡ rối, sắp xếp lại cho hợp với hướng trường cung mạng. Sắp xếp lại đường cấp nước sạch vào, đường thoát nước thải ra, lối giao thông trong ngôi nhà. Xoay bếp, chỉnh hướng ngủ hợp với từng thành viên trong gia đình. Sắp xếp vị trí đặt bàn thờ, hướng thờ, chỗ làm việc, góc học tập, nơi tiếp khách, v.v … nhằm đem lại tất cả điều tốt lành cho chủ nhân và các thành viên sống trong một gia đình ở cùng một không gian ngôi nhà. KTs. Đoàn Đức Thành: Với một bề dày tìm hiểu, khảo sát thực tế trong nhiều năm, anh có thể nêu lên một số điểm thiết yếu trong thuật Phong thuỷ đang thịnh hành ở trong nước cũng như một số nước Châu á hiện nay?KTS. Phùng Đạo Hợp: Các nhà Phong thuỷ thường tiến hành theo các bước sau: Trước hết, xác định tuổi qua năm tháng ngày sinh để tính toán cung hướng mạng cho từng người. Mỗi người đều có năm, tháng, ngày, giờ sinh của mình. Và mỗi năm đều có một sao quản vận. Sao quản vận chiếu mạng (theo Tam nguyên cửu vận) thì con người mang trường sinh mạng của sao đó. Theo hình đồ 9 sao phối 8 cung hướng của Bát quái (trùng với từ trường Nam Bắc của Trời – Đất và chia ra 8 hướng chính). Mỗi cung hướng mang một thuộc tính ngũ hành khác nhau. Hệ sóng từ quy nạp vào 9 sao cũng tồn tại, luôn luân chuyển, thay đổi vị trí theo một quỹ đạo nhất định. Chín ngôi sao đó được mang tính chất khí với thuộc tính ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ (theo Tử vi. Mỗi người còn được đặt vào một cung hướng nhất định của Bát quái đồ gọi cung mạng: Có mạng Càn, mảng Khảm, mạng Cấn, mạng Chấn, mạng Tốn, mạng Ly, mạng Khôn, mạng Đoài. Tính từ năm sinh tra bảng (Tra bảng ) ta sẽ biết được cung mạng của mỗi người nằm trong cung hướng nào. 1/ Hướng Tây-Bắc, cung Càn thuộc Kim; 2/ Hướng Bắc, cung Khảm thuộc Thuỷ; 3/ Hướng Đông-Bắc, cung Cấn thuộc Thổ; 4/ Hướng Đông, cung Chấn thuộc Mộc; 5/ Hướng Đông-Nam, cung Tốn thuộc Mộc; 6/ Hướng Nam, cung Ly thuộc Hoả; 7/ Hướng Tây-Nam, cung Khôn thuộc Thổ; 8/ Hướng Tây, cung Đoài thuộc Kim Bảng (Xem bảng ) Năm sinh Cung Mạng Dương Âm Nam Nữ 1920 Canh Thân Cấn Đoài 1921 Tân Dậu Đoài Cấn 1922 Nhâm Tuất Càn Ly 1923 Quý Hợi Khôn Khảm 1924 Giáp Tý Tốn Khôn 1925 ất Sửu Chấn Chấn 1926 Bính Dần Khôn Tốn 1927 Đinh Mão Khảm Cấn 1928 Mậu Thìn Ly Càn 1929 Kỷ Tỵ Cấn Đoài 1930 Canh Ngọ Đoài Cấn 1931 Tân Mùi Càn Ly 1932 Nhâm Thân Khôn Khảm 1933 Quý Dậu Tốn Khôn 1934 Giáp Tuất Chấn Chấn 1935 ất Hợi Khôn Tốn 1936 Bính Tý Khảm Cấn 1937 Đinh Sửu Ly Càn 1938 Mậu Dần Cấn Đoài 1939 Kỷ Mão Đoài Cấn 1940 Canh Thìn Càn Ly 1941 Tân Tỵ Khôn Khảm 1942 Nhâm Ngọ Tốn Khôn 1943 Quý Mùi Chấn Chấn 1944 Giáp Thân Khôn Tốn 1945 ất Dậu Khảm Cấn 1946 Bính Tuất Ly Càn 1947 Đinh Hợi Cấn Đoài 1948 Mậu Tý Đoài Cấn 1949 Kỷ Sửu Càn Ly 1950 Canh Dần Khôn Khảm 1951 Tân Mão Tốn Khôn 1952 Nhâm Thìn Chấn Chấn 1953 Quý Tỵ Khôn Tốn 1954 Giáp Ngọ Khảm