Kiến Trúc Kinh Thành Huế

--- Bài mới hơn ---

  • Vua Gia Long Và Kiến Trúc Kinh Thành Huế
  • Cách Thiết Kế Kiến Trúc Nhà Hợp Phong Thủy
  • Thiết Kế Kiến Trúc Hợp Phong Thủy Hút Tài Lộc Vào Nhà
  • Cách Thiết Kế Kiến Trúc Nhà Ở Hợp Phong Thủy
  • Thiết Kế Kiến Trúc Nhà Ở Biệt Thự Theo Phong Thủy Gồm Những Bước Nào?
  • Xây dựng kinh thành Huế lúc bấy giờ có ý nghĩa chiến lược đối với vận mệnh quốc gia. Do đó, vua Gia long rất cẩn trọng từ việc lựa chọn vị trí đến các yếu tố phong thủy. Tương truyền, trước khi chọn địa điểm, nhà vua đã đến chùa Thiên Mụ để cầu xin Bà Trời chỉ cho vị trí đắc địa. Theo đó, Bà Trời bảo vua Gia Long hãy thắp nén hương cưỡi ngựa chạy ngược dòng sông Hương, đi đến đâu nén hương tắt thì đó chính là vị trí định đô của nhà Nguyễn.

    Cấu trúc lớp không gian thể hiện trong kiến trúc cố đô Huế

    Kinh thành Huế được tổ chức theo các lớp không gian. Bên trong mỗi lớp không gian là một tổng thể với hàng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ. Tất cả các công trình này đều được xây dựng xung quanh một trục chính, theo hướng Đông Nam – Tây Bắc. Đây là hướng có núi Ngự Bình, thuận lợi cả về địa hình địa thế cho đến yếu tố phong thủy và âm dương ngũ hành. Các phân tích chuyên sâu đều cho thấy ở vùng đất này có nước phủ bốn bề. Theo phong thủy đây sẽ là nơi tụ thủy, đất phát tài.

    Phương thức tổ chức không gian theo trúc được bắt đầu từ Kỳ Đài (cột cờ), tiếp đến là Ngọ Môn, sân Đại Triều Nghi, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, điện Kiên Trung và kết thúc ở cửa Hòa Bình. Các công trình còn lại trong khu vực kinh thành Huế được xây dựng đăng đối ở hai bên đường trục.

    Kiểu thành lũy phòng thủ Vauban nổi bật tại kinh thành Huế

    Lối kiến trúc Vauban lấy theo tên của kiến trúc sư Vauban (1633 – 1707). Di sản của ông có hơn 30 tòa thành và trên 300 đồn lũy ở thời kỳ nội chiến Pháp theo phong cách thành lũy phòng thủ. Sự giao thoa văn hóa ở thời kỳ nhà Nguyễn đã tạo điều kiện đề lối kiến trúc phương Tây này du nhập và kết hợp hài hòa với kiến trúc Việt Nam tạo thành một tổng thể công trình đồ sộ, độc đáo.

    Theo đó, kinh thành Huế được xây dựng theo lối zích zắc lồi lõm, hình vuông, có 11 cửa ra vào, 24 pháo đài, tường thành cao, ở các góc đều có đài quan sát bao quát, xung quanh thành là hệ thống hào nước sâu bao quanh.

    • Cửa Chính Bắc (cửa Hậu) nằm ở mặt sau kinh thành.
    • Cửa Tây-Bắc (An Hòa).
    • Cửa Chính Tây.
    • Cửa Tây-Nam (cửa Hữu) nằm ở bên phải Kinh Thành.
    • Cửa Chính Nam (cửa Nhà Đồ).
    • Cửa Quảng Đức.
    • Cửa Thể Nhơn ( cửa Ngăn).
    • Cửa Đông-Nam (cửa Thượng Tứ).
    • Cửa Chính Đông (cửa Đông Ba).
    • Cửa Đông-Bắc ( cửa Kẻ Trài).
    • Cửa Trấn Bình Môn.

    Kiến trúc truyền thống Việt Nam trong Kinh thành Huế

    Các kỳ đài, lầu cửa, vọng đài… cùng với nghệ thuật trang trí, điêu khắc gỗ, xử lý nền móng, xây gạch, làm ngói men… thể hiện rõ sự kế thừa trong lối kiến trúc truyền thống Việt Nam.

    Nhịp điệu các lớp mái tạo ra sự biến hoá đa dạng của cấu trúc gỗ truyền thống. Cấu trúc bộ vì kèo tạo nên vẻ đẹp của sự biến thiên trong không gian nội thất.

    Các lớp không gian trong kinh thành Huế

    Kinh đô Huế được xây dựng thành 3 lớp vòng thành. Bao gồm: phòng thành, hoàn thành và tử cấm thành.

    Phòng thành – lớp không gian thành ngoài

    Phòng thành được xây dựng dạng gần hình vuông mỗi cạnh dài 2235m, chu vi gần 9000m, có 11 cửa, có 24 pháo đài, tường cao trên 5m, thành dày 21m. Bao bọc phía ngoài tường thành là lớp không gian sông Hộ thành có vai trò phòng thủ chặt chẽ cho đô thị Huế. Kinh thành là nơi sinh sống của quan lại và dân cư.

    Hoàng thành – lớp không gian vòng thành giữa

    Hoàng thành hay còn được gọi là Hoàng cung – Đại Nội. Hoàng thành được xây dựng hình chữ nhật, trước và sau dài 622m, hai bên phải trái dài 606m. Hoàng thành có 4 cửa: Ngọ Môn (hướng Nam), Hòa Bình (hướng Bắc), Chương Đức (hướng Tây), Hiển Nhơn (hướng Đông).

    Tử cấm thành – lớp không gian vòng thành trong cùng

    Có thể nói kiến trúc Kinh thành Huế mang đậm tính đương đại. Đây là một trong những công trình đặc sắc có giá trị cả về văn hóa và kiến trúc tạo nên một tổng thể kiến trúc cảnh quan tuyệt vời, xứng đáng trở thành một công trình kiến trúc vàng son của triều đại nhà Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Thuỷ Trong Đời Sống Và Nhà Ở
  • Vị Trí Đặt Cầu Thang Theo Phong Thủy
  • 25 Điều Cấm Kỵ Khi Kê Giường Ngủ Phong Thủy
  • 5 Lời Dạy Của Khổng Tử Giúp Hóa Giải Điềm Gở Trong Phong Thủy
  • Những Lưu Ý Thiết Kế Phong Thủy Cho Biệt Thự · Kiến Trúc Duy Tân
  • Phong Thủy Trong Kiến Trúc Kinh Thành Huế

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Bố Trí Nhà Hợp Phong Thủy
  • Thiết Kế Kiến Trúc Nhà Ở Theo Phong Thủy Thế Nào?
  • Thiết Kế Kiến Trúc Nhà Đẹp Theo Phong Thủy Tuổi 2001
  • Như Thế Nào Là Mặt Tiền Nhà Đẹp Hợp Phong Thủy?
  • Tính Khoa Học Của Phong Thủy Trong Kiến Trúc Truyền Thống
  • Việc chọn đất định đô xét về mặt phong thủy, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự ổn định và hưng thịnh cho cả triều đại và quốc gia. Kiến trúc kinh thành Huế chính là một trong những mẫu mực của việc áp dụng thuật phong thủy.

    Tổng thể kinh thành Huế được đặt trong khung cảnh rộng, núi cao thế đẹp, minh đường lớn và có sông uốn khúc rộng. Núi Ngự Bình cao hơn 100m, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, tọa lạc giữa vùng đồng bằng. Hai bên là cồn Hến và cồn Dã Viên ở vào thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ – là một thế đất lý tưởng theo tiêu chuẩn của phong thủy. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành.

    Toàn cảnh Đại Nội trong kinh thành Huế

    Do quan niệm “Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ” (Thiên tử phải quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ) nhưng đồng thời phải tận dụng được thế đất đẹp nên kinh thành và các công trình trong đó được bố trí đối xứng qua trục dũng đạo quay mặt hơi chếch về hướng Ðông – Nam một góc nhỏ nhưng vẫn giữ được tư tưởng chính của thuyết phong thủy. Ðây là cách sáng tạo và linh hoạt của người quy hoạch trong việc vận dụng thuyết phong thủy

    Mặt khác, để tạo được phong thủy tốt, các nhà quy hoạch không chỉ xem hướng công trình mà cần xem xét ảnh hưởng của bố trí nội thất, các bộ phận và kế cấu trong công trình như chiều dài, rộng, cao, các cột, cửa… Ví dụ: Các bộ phận của Ngọ Môn đều dựa vào những con số theo nguyên tắc của dịch học như số 5, số 9, số 100.

    Năm lối đi vào Ngọ Môn tựơng trưng cho Ngũ Hành, trong đó lối vua đi thuộc hành Thổ, màu vàng. Chính bộ mái của lầu Ngũ Phụng biểu hiện con số 5 và 9 trong hào Cửu Ngũ ở Kinh Dịch, ứng với mạng thiên tử. Một trăm cột là tổng của các con số Hà Ðồ (55) và Lạc Thư (45)… Các con số này ta lại gặp ở sân Ðại Triều Nghi với 9 bậc cấp ở phần sân dưới và 5 bậc cấp ở phần sân trên.

    Trên mỗi mái của điện Thái Hòa đều đựơc đắp nổi 9 con rồng trong các tư thế khác nhau và trong nội thất cũng tương tự.

    Về vị trí và phong thủy của kinh thành Huế, các sử quan triều Nguyễn đã nhận xét: “Kinh sư là nơi miền núi miền biển đều hợp về, đứng giữa miền Nam miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chận; sông lớn giữ phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thể vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phong Thủy Với Đời Sống Và Nhà Ở
  • Chuyên Gia Phong Thủy Là Gì Qua Cách Phân Tích Của Kiến Trúc Sư Hoàng Trà
  • Phong Thủy Trong Kiến Trúc Khi Xây Dựng Nhà Trọn Gói
  • Phong Thủy Trong Kiến Trúc Nhà
  • Nghệ Thuật Phong Thủy Trong Kiến Trúc Tử Cấm Thành
  • Vua Gia Long Và Phong Thủy Kinh Thành Huế

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Cách Dùng La Bàn Phong Thủy Chính Xác Nhất
  • Hướng Dẫn Sử Dụng La Bàn Phong Thủy Chính Xác Vượng Tài Vượng Vận
  • Dùng La Bàn Phong Thủy Thế Nào Cho Chính Xác?
  • Phong Thủy Lạc Việt Khác Với Phong Thủy Truyền Thống Ở Điểm Nào?
  • 8 Mẹo Phong Thủy Nhà Ở Hút Tiền Tài Luôn Được Nhà Giàu Áp Dụng
  • Dân cư của 8 làng phải di dời đi nơi khác gồm: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, Thế Lại, An Bửu, trong đó đất làng Phú Xuân hầu hết đều nằm gọn trong phạm vi kinh thành sẽ xây. Vì thế, vua Gia Long đã cấp 30 mẫu ruộng, 3 khoảng đất để dựng nhà và 1000 quan để giúp dân Phú Xuân – 7 làng còn lại theo tài liệu của Tả tham tri Bộ binh Võ Liêm mỗi nhà “được cấp 3 lạng và mỗi ngôi mộ dời đi được cấp 2 lạng”. Nhà vua nghĩ rằng việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn cần phải chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng trên tổng diện tích 520ha và chu vi 9.889m. Huỳnh Đình Kết nhận định đây là đợt giải tỏa lớn, triệt để và khẩn trương, tiến hành trong vòng 2 năm, riêng phần mộ vắng chủ quy tập về nghĩa trang Ba Đòn có đến 10.000 ngôi.

    Di dời xong, Gia Long chọn ngày tốt vào tháng tư âm lịch, nhầm 9.5.1804 dương lịch để bắt tay xây dựng vòng trong thành (vòng trong của Đại Nội) với tổng chu vi 4 cạnh là 307 trượng, 3 thước 4 tấc (1.229m), thành bằng gạch cao 9 thước 2 tấc (3m68) và dày 1 thước 8 tấc (0m72) – theo Võ Liêm. Sau đó, công việc tiếp tục qua nhiều giai đoạn, song nhìn toàn cục kinh thành Huế quay mặt về hướng Đông nam (Tốn) thay vì hướng chính Nam như các vua chúa thường chọn theo thuật phong thủy để xây cung điện của mình.

    Vì sao vua Gia Long lại quyết định chọn hướng như thế? Nguyễn Đăng Khoa đề cập đến trong Kỷ yếu Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, số 7 1991 rằng, những công trình kiến trúc của kinh thành Huế được tiến hành theo một hệ thống các quy tắc hết sức nghiêm ngặt của các hình thế núi sông, long mạch “mặt bằng và độ cao thấp của địa hình được người xưa quan niệm đó là văn của đất, có cao, thấp, là có sông, suối, đầm, núi, tạo ra những nhịp điệu riêng của từng vùng – những nhịp điệu lớn chung của nhiều vùng nhỏ tạo ra những đại cuộc đất”. Cụ thể hơn, Trần Đức Anh Sơn qua tài liệu về tư tưởng quy hoạch kinh thành Huế thời Gia Long giới thiệu trên tập Cố đô Huế xưa và nay do Hội Khoa học lịc sử Thừa Thiên – Huế và NXB Thuận Hóa ấn hành 2005, đã cho biết nội dung cuộc trao đổi với một người trong hoàng tộc uyên thâm về dịch học, lý số, phong thủy là học giả Vĩnh Cao theo 4 ý chính, nguyên văn:

    1. Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây bắc – Đông nam. Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất.

    2. Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi là chu tước (chim sẻ đỏ) thuộc hướng Nam, hành hỏa. Phía trái (từ ngoài nhìn vào) gọi là bạch hổ (hổ trắng) thuộc hướng Tây, hành kim. Phía phải gọi là thanh long (rồng xanh) thuộc hướng Đông, hành mộc. Phía sau gọi là huyền vũ (rùa đen) thuộc hướng Bắc, hành thủy. Đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành mà sinh khắc chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình, rồi dùng ngũ hành mà tạo lục thân để đoán vị và quy hoạch, bố tri cung điện.

    3. Phong thủy cũng quan niệm rằng: phía Tây thuộc về chủ; phía Đông thuộc về thê thiếp, bạn bè ti bộc, vật giá, châu báu, kho đụn, vật loại… tức là những thứ mà chủ sai khiến, sử dụng; phía sau thuộc về tử tôn, môn sinh, trung thần, lương tướng. Từ đó, việc bố trí các cung điện, dinh thự… trong Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành cũng dựa vào nguyên tắc này mà phân bổ chức năng.

    4. Kinh thành Huế xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy là nơi tụ thủy, đất phát tài. Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc (kim khắc mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo. Vì thế phải xây chúa miếu ở phía Tây để trấn. Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế.

    Nói rõ hơn, Nguyễn Đăng Khoa qua tài liệu đã dẫn, nhận xét: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long.

    Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách Địa đạo diễn ca của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thủy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành).

    Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có án, có tả thanh long, hữa bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.

    Hẳn rằng, Gia Long khi cho xây dựng đều cho tuân thủ các tập tục này: họ chọn ngày tốt và ngày hôm đó họ cũng thực hiện một thao tác quan trọng bậc nhất, đó là việc thượng lương. Trước hôm đó, họ cho chuẩn bị kỹ lưỡng: ban đất, chuẩn bị nền móng, trụ cột, bào đẽo các cột kèo…. Cũng như ở Tây phương, người ta tổ chức long trọng lễ đặt viên đá đầu tiên, nhưng ngày hôm đó không chính xác là ngày khởi công. Vì thế nên hiểu ý nghĩa của ngày tháng được nêu trong văn bản về các việc xây dựng kinh thành Huế”. Công trình kiến trúc kinh thành được tiếp tục vào thời vua Minh Mạng ra sao?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Phong Thủy Kinh Thành Huế (P1)
  • Tài Liệu Thuyết Minh Về Phong Thủy Kinh Thành Huế
  • Xem Hướng Nhà Hợp Tuổi Theo Phong Thủy 1979 Kỷ Mùi
  • Cẩm Nang Phong Thủy Tuổi Kỷ Mùi 1979
  • Tỳ Hưu ( Kỳ Hưu ) Có Tác Dụng Gì Trong Phong Thủy ???
  • Tìm Hiểu Về Phong Thủy Kinh Thành Huế (P1)

    --- Bài mới hơn ---

  • Vua Gia Long Và Phong Thủy Kinh Thành Huế
  • Hướng Dẫn Cách Dùng La Bàn Phong Thủy Chính Xác Nhất
  • Hướng Dẫn Sử Dụng La Bàn Phong Thủy Chính Xác Vượng Tài Vượng Vận
  • Dùng La Bàn Phong Thủy Thế Nào Cho Chính Xác?
  • Phong Thủy Lạc Việt Khác Với Phong Thủy Truyền Thống Ở Điểm Nào?
  • Vua Gia Long là người quyết định chủ yếu kiến trúc kinh thành Huế, trong đó ông rất đề cao vấn đề phong thủy. Sau khi lên ngôi, ông đích thân nghiên cứu tìm hướng tốt và cuộc đất thuận tiện xây dựng kinh thành Huế với đề án di dời 8 ngôi làng để lấy mặt bằng thực hiện…

    Đáp ứng lòng người trước khi định đô

    Dân cư của 8 làng phải di dời đi nơi khác gồm: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, Thế Lại, An Bửu, trong đó đất làng Phú Xuân hầu hết đều nằm gọn trong phạm vi kinh thành sẽ xây. Vì thế, vua Gia Long đã cấp 30 mẫu ruộng, 3 khoảng đất để dựng nhà và 1000 quan để giúp dân Phú Xuân – 7 làng còn lại theo tài liệu của Tả tham tri Bộ binh Võ Liêm mỗi nhà “được cấp 3 lạng và mỗi ngôi mộ dời đi được cấp 2 lạng”. Nhà vua nghĩ rằng việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn cần phải chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng trên tổng diện tích 520ha và chu vi 9.889m. Huỳnh Đình Kết nhận định đây là đợt giải tỏa lớn, triệt để và khẩn trương, tiến hành trong vòng 2 năm, riêng phần mộ vắng chủ quy tập về nghĩa trang Ba Đòn có đến 10.000 ngôi.

    Ngọ môn Huế

    Di dời xong, Gia Long chọn ngày tốt vào tháng tư âm lịch, nhầm 9.5.1804 dương lịch để bắt tay xây dựng vòng trong thành (vòng trong của Đại Nội) với tổng chu vi 4 cạnh là 307 trượng, 3 thước 4 tấc (1.229m), thành bằng gạch cao 9 thước 2 tấc (3m68) và dày 1 thước 8 tấc (0m72) – theo Võ Liêm. Sau đó, công việc tiếp tục qua nhiều giai đoạn, song nhìn toàn cục kinh thành Huế quay mặt về hướng Đông nam (Tốn) thay vì hướng chính Nam như các vua chúa thường chọn theo thuật phong thủy để xây cung điện của mình. Vì sao vua Gia Long lại quyết định chọn hướng như thế? Nguyễn Đăng Khoa đề cập đến trong Kỷ yếu Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, số 7 1991 rằng, những công trình kiến trúc của kinh thành Huế được tiến hành theo một hệ thống các quy tắc hết sức nghiêm ngặt của các hình thế núi sông, long mạch “mặt bằng và độ cao thấp của địa hình được người xưa quan niệm đó là văn của đất, có cao, thấp, là có sông, suối, đầm, núi, tạo ra những nhịp điệu riêng của từng vùng – những nhịp điệu lớn chung của nhiều vùng nhỏ tạo ra những đại cuộc đất”. Cụ thể hơn, Trần Đức Anh Sơn qua tài liệu về tư tưởng quy hoạch kinh thành Huế thời Gia Long giới thiệu trên tập Cố đô Huế xưa và nay do Hội Khoa học lịc sử Thừa Thiên – Huế và NXB Thuận Hóa ấn hành 2005, đã cho biết nội dung cuộc trao đổi với một người trong hoàng tộc uyên thâm về dịch học, lý số, phong thủy là học giả Vĩnh Cao theo 4 ý chính, nguyên văn:

    Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây bắc – Đông nam. Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất.

    Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi là chu tước (chim sẻ đỏ) thuộc hướng Nam, hành hỏa. Phía trái (từ ngoài nhìn vào) gọi là bạch hổ (hổ trắng) thuộc hướng Tây, hành kim. Phía phải gọi là thanh long (rồng xanh) thuộc hướng Đông, hành mộc. Phía sau gọi là huyền vũ (rùa đen) thuộc hướng Bắc, hành thủy. Đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành mà sinh khắc chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình, rồi dùng ngũ hành mà tạo lục thân để đoán vị và quy hoạch, bố tri cung điện.

    Phong thủy cũng quan niệm rằng: phía Tây thuộc về chủ; phía Đông thuộc về thê thiếp, bạn bè ti bộc, vật giá, châu báu, kho đụn, vật loại… tức là những thứ mà chủ sai khiến, sử dụng; phía sau thuộc về tử tôn, môn sinh, trung thần, lương tướng. Từ đó, việc bố trí các cung điện, dinh thự… trong Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành cũng dựa vào nguyên tắc này mà phân bổ chức năng.

    Kinh thành Huế xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy là nơi tụ thủy, đất phát tài. Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc (kim khắc mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo. Vì thế phải xây chúa miếu ở phía Tây để trấn. Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế.

    Sơ đồ kinh thành Huế

    Nói rõ hơn, Nguyễn Đăng Khoa qua tài liệu đã dẫn, nhận xét: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long.

    Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách Địa đạo diễn ca của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thủy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành).

    Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có án, có tả thanh long, hữa bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.

    Bờ thành kinh thành Huế

    Dãy súng đại bác trước Ngọ môn

    Hẳn rằng, Gia Long khi cho xây dựng đều cho tuân thủ các tập tục này: họ chọn ngày tốt và ngày hôm đó họ cũng thực hiện một thao tác quan trọng bậc nhất, đó là việc thượng lương. Trước hôm đó, họ cho chuẩn bị kỹ lưỡng: ban đất, chuẩn bị nền móng, trụ cột, bào đẽo các cột kèo…. Cũng như ở Tây phương, người ta tổ chức long trọng lễ đặt viên đá đầu tiên, nhưng ngày hôm đó không chính xác là ngày khởi công. Vì thế nên hiểu ý nghĩa của ngày tháng được nêu trong văn bản về các việc xây dựng kinh thành Huế”. Công trình kiến trúc kinh thành được tiếp tục vào thời vua Minh Mạng ra sao?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tài Liệu Thuyết Minh Về Phong Thủy Kinh Thành Huế
  • Xem Hướng Nhà Hợp Tuổi Theo Phong Thủy 1979 Kỷ Mùi
  • Cẩm Nang Phong Thủy Tuổi Kỷ Mùi 1979
  • Tỳ Hưu ( Kỳ Hưu ) Có Tác Dụng Gì Trong Phong Thủy ???
  • Phong Thủy Kê Bàn Làm Việc Và Những Lưu Ý Quan Trọng
  • Tài Liệu Thuyết Minh Về Phong Thủy Kinh Thành Huế

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Phong Thủy Kinh Thành Huế (P1)
  • Vua Gia Long Và Phong Thủy Kinh Thành Huế
  • Hướng Dẫn Cách Dùng La Bàn Phong Thủy Chính Xác Nhất
  • Hướng Dẫn Sử Dụng La Bàn Phong Thủy Chính Xác Vượng Tài Vượng Vận
  • Dùng La Bàn Phong Thủy Thế Nào Cho Chính Xác?
  • Tổng thể kinh thành Huế được đặt trong khung cảnh rộng, núi cao thế đẹp, minh đường lớn và có sông uốn khúc rộng. Núi Ngự Bình cao hơn 100m, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, tọa lạc giữa vùng đồng bằng. Hai bên là cồn Hến và cồn Dã Viên ở vào thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ – là một thế đất lý tưởng theo tiêu chuẩn của phong thủy. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành. Chính vua Gia Long đã đích thân nghiên cứu tìm hướng tốt và cuộc đất thuận tiện xây dựng kinh thành Huế.

    Dân cư của 8 làng phải di dời đi nơi khác gồm: Phú Xuân, Vạn Xuân, Diễn Phái, An Vân, An Hòa, An Mỹ, Thế Lại, An Bửu, trong đó đất làng Phú Xuân hầu hết đều nằm gọn trong phạm vi kinh thành sẽ xây. Vì thế, vua Gia Long đã cấp 30 mẫu ruộng, 3 khoảng đất để dựng nhà và 1000 quan để giúp dân Phú Xuân – 7 làng còn lại theo tài liệu của Tả tham tri Bộ binh Võ Liêm mỗi nhà “được cấp 3 lạng và mỗi ngôi mộ dời đi được cấp 2 lạng”. Nhà vua nghĩ rằng việc đền bù nhà cửa, ruộng vườn cần phải chu đáo, giữ yên lòng dân để bắt tay xây dựng trên tổng diện tích 520ha và chu vi 9.889m. Huỳnh Đình Kết nhận định đây là đợt giải tỏa lớn, triệt để và khẩn trương, tiến hành trong vòng 2 năm, riêng phần mộ vắng chủ quy tập về nghĩa trang Ba Đòn có đến 10.000 ngôi.

    Vì sao vua Gia Long lại quyết định chọn hướng như thế? Nguyễn Đăng Khoa đề cập đến trong Kỷ yếu Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam, số 7 1991 rằng, những công trình kiến trúc của kinh thành Huế được tiến hành theo một hệ thống các quy tắc hết sức nghiêm ngặt của các hình thế núi sông, long mạch “mặt bằng và độ cao thấp của địa hình được người xưa quan niệm đó là văn của đất, có cao, thấp, là có sông, suối, đầm, núi, tạo ra những nhịp điệu riêng của từng vùng – những nhịp điệu lớn chung của nhiều vùng nhỏ tạo ra những đại cuộc đất”. Cụ thể hơn, Trần Đức Anh Sơn qua tài liệu về tư tưởng quy hoạch kinh thành Huế thời Gia Long giới thiệu trên tập Cố đô Huế xưa và nay do Hội Khoa học lịc sử Thừa Thiên – Huế và NXB Thuận Hóa ấn hành 2005, đã cho biết nội dung cuộc trao đổi với một người trong hoàng tộc uyên thâm về dịch học, lý số, phong thủy là học giả Vĩnh Cao theo 4 ý chính, nguyên văn:

    – 1. Kinh đô, theo quan niệm phong thủy ngày xưa đều hướng về Nam nhưng ngay tại vùng Thừa Thiên, mạch núi Trường Sơn, đặc biệt là quần sơn kề cận kinh đô cho đến dãy Bạch Mã đều chạy theo hướng Tây bắc – Đông nam. Dựa vào thế đất ấy, kinh thành nhìn về hướng Đông Nam là tốt nhất.

    – 2. Theo thuật phong thủy thì bất cứ một ngôi nhà hay cung điện gì thì ở phía trước gọi là chu tước (chim sẻ đỏ) thuộc hướng Nam, hành hỏa. Phía trái (từ ngoài nhìn vào) gọi là bạch hổ (hổ trắng) thuộc hướng Tây, hành kim. Phía phải gọi là thanh long (rồng xanh) thuộc hướng Đông, hành mộc. Phía sau gọi là huyền vũ (rùa đen) thuộc hướng Bắc, hành thủy. Đặt kinh thành dựa theo hướng thiên nhiên, dùng ngũ hành mà sinh khắc chế hóa để sửa đổi, tạo thế quân bình, rồi dùng ngũ hành mà tạo lục thân để đoán vị và quy hoạch, bố tri cung điện.

    – 3. Phong thủy cũng quan niệm rằng: phía Tây thuộc về chủ; phía Đông thuộc về thê thiếp, bạn bè ti bộc, vật giá, châu báu, kho đụn, vật loại… tức là những thứ mà chủ sai khiến, sử dụng; phía sau thuộc về tử tôn, môn sinh, trung thần, lương tướng. Từ đó, việc bố trí các cung điện, dinh thự… trong Kinh thành, Hoàng thành và Tử cấm thành cũng dựa vào nguyên tắc này mà phân bổ chức năng.

    – 4. Kinh thành Huế xây dựng ở vùng đất có nước phủ bốn bề, theo phong thủy là nơi tụ thủy, đất phát tài. Nhưng phía Tây kinh thành lại có khí núi xung sát, sông Hương uốn khúc vì thế hành kim rất vượng. Điều này sẽ có hại cho phía Đông, chủ hành mộc (kim khắc mộc). Mộc yếu sẽ dẫn đến sự hạn chế về của cải, dân chúng, thương mại…, kim động sẽ gây hại cho dương trạch nên dễ sinh tật bệnh, tổn hại gia đạo. Vì thế phải xây chúa miếu ở phía Tây để trấn. Đó là lý do ra đời Văn Miếu, chùa Thiên Mụ ở phía Tây kinh thành Huế.

    Mặt khác, để tạo được phong thủy tốt, các nhà quy hoạch không chỉ xem hướng công trình mà cần xem xét ảnh hưởng của bố trí nội thất, các bộ phận và kế cấu trong công trình như chiều dài, rộng, cao, các cột, cửa… Ví dụ: Các bộ phận của Ngọ Môn đều dựa vào những con số theo nguyên tắc của dịch học như số 5, số 9, số 100.

    Vận dụng dịch lý và thuật phong thủy bên bờ sông Hương

    Nói rõ hơn, Nguyễn Đăng Khoa qua tài liệu đã dẫn, nhận xét: “Sông Hương theo cách nhìn địa lý cổ, là một dòng sông chảy ngược từ phía Nam lên phía Bắc. Theo quan niệm trong Kinh dịch thì gốc của thủy phải ở phía Bắc và chảy về Nam (khởi từ Khảm và tụ về Ly). Tất nhiên, ở Huế, dòng chảy của sông Hương do địa hình quy định, phía Nam sông Hương là vùng đồi núi cao, hợp lưu của hai nhánh sông Tả và Hữu trạch. Hai dòng nước này hợp lại ở thượng nguồn sông Hương, giữa 3 khu núi cao là Kim Phụng, Thiên Thọ và núi Vưng. Nhìn rộng ra thì cả khu vực đồi núi này bắt nguồn từ Trường Sơn, tạt ngang ra biển, tạo nên một đại cuộc đất là Hoành Long.

    Dòng sông Hương trong lặng tỏa rộng về phía Bắc ra cảng Thuận An. Dòng nước uốn lượn nhiều lần qua đồi Vọng Cảnh, chảy về phía Nguyệt Biều, rồi lật trở lại chảy qua mặt thành. Theo sách Địa đạo diễn ca của Tả Ao thì long mạch uốn lượn gấp khúc càng nhiều thì càng chứng tỏ đất có nhiểu sinh khí. Mặt đất nhược dần về phía kinh thành tạo ra một vài thế đất kết tụ gọi là Thủy Hử (phần đất được sông đổi hướng chảy ôm lấy tạo thành). Những loại mạch sơn cước như vậy khi xuống thấp thấy hiền hòa hơn, chính là nơi tạo ra những huyệt địa kết phát. Vua Gia Long đã chọn được khu vực tốt cho việc xây thành, lập kinh đô. Thành có án, có tả thanh long, hữa bạch hổ triều củng, có “thủy đáo điện tiền” và đoạn sông trước thành đồng thời đóng vai trò minh đường cho thành”.

    Về vị trí và phong thủy của kinh thành Huế, các sử quan triều Nguyễn đã nhận xét: “Kinh sư là nơi miền núi miền biển đều hợp về, đứng giữa miền Nam miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chận; sông lớn giữ phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thể vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua”.

    Phong thủy của Thủy đạo – “hệ xương nước” điều hòa phong thủy cho Kinh thành Huế

    Trong cảnh quan thì yếu tố Thủy (mặt nước sông, hồ, ao) và Thủy đạo (mạng lưới đường thủy gồm các sông, hồ, ao nối với nhau) là thành tố không thể thiếu trong bố cục cảnh quan ở các khu di tích Huế. Ngoài ý nghĩa về mặt triết lý phong thuỷ thì nó còn đóng vai trò quan trọng trong điều tiết nước, cải tạo đất đai, điều hoà môi trường sinh thái xung quanh… được xem như “hệ xương nước” ở Kinh thành Huế.

    Đến Huế hiện nay, khi đi dạo quanh ở bờ bắc sông Hương nơi tập trung phần lớn hệ thống kiến trúc của di tích Huế thì sự hiện hữu nhiều các sông, ao, hồ – là dấu tích của vua để lại nhằm điều hòa khí hậu cho một vùng. Những thế hệ sau này tại cố đô lớn lên đều cảm nhận được điều đó, khi bờ bắc rất xanh mát và dễ chịu bởi hệ thống Thủy đạo cực kỳ quý giá này.

    Hiện nay, cùng với đà phát triển của đô thị, sự lấn chiếm, san lấp trái phép của người dân đã làm cho diện tích các ao hồ di tích Huế bị giảm thiểu một cách nghiêm trọng, nhiều đoạn lòng hào bị san lấp nghiêm trọng, bờ hào bị người dân lán chiếm làm nhà ở.

    Theo số liệu thống kê của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, trong khu vực Kinh thành có hơn 50 hồ nay đã bị lấp mất gần 1/5, số còn lại (trừ hồ trong khu vực Hoàng Thành) đang bị lấn chiếm, hoặc trở thành nơi xả rác, chất thải của người dân. Các loại động thực vật thuỷ sinh đặc trưng cho hệ thống ao hồ này gần như không còn hoặc còn rất ít, diện tích mặt nước hoang phế, cây cỏ dại, rong bèo mọc tràn lan gây mất mỹ quan cho khu vực. Nguồn nước đều trong trạng thái ô nhiễm ảnh hưởng đến môi trường môi sinh của khu vực.

    Nguồn: Đại Dương (Dân Trí) – Tạp chí Duyên dáng Việt Nam – Lý học đông Phương – Admin chúng tôi

    Với tài liệu tham khảo này, City Tour Đà Nẵng hy vọng các bạn hướng dẫn viên sẽ lưu lại cho mình những kiến thức nền tảng tốt nhất để hành nghề, giúp du khách hiểu hơn văn hóa lịch sử quê hương mình. Thân mến!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xem Hướng Nhà Hợp Tuổi Theo Phong Thủy 1979 Kỷ Mùi
  • Cẩm Nang Phong Thủy Tuổi Kỷ Mùi 1979
  • Tỳ Hưu ( Kỳ Hưu ) Có Tác Dụng Gì Trong Phong Thủy ???
  • Phong Thủy Kê Bàn Làm Việc Và Những Lưu Ý Quan Trọng
  • Bí Mật Phong Thủy Của Két Sắt Đựng Tiền
  • Kiến Trúc Kinh Thành Huế Và Những Điều Thú Vị Về Địa Thế Phong Thủy

    --- Bài mới hơn ---

  • Dich Vụ Tư Vấn Phong Thủy & Tâm Linh
  • Top 5 Cửa Hàng Bán Đồ Đá Phong Thủy Uy Tín, Giá Rẻ Ở Tphcm
  • Top 5 Giá Thể Trồng Lan Tốt Và Rẻ Nhất Mà Bạn Nên Biết?
  • Nghiên Cứu Các Vật Liệt Làm Giá Thể Trồng Dendrobium Tại Thủ Đức
  • Vòng Tay Đá Phong Thủy Đá Tự Nhiên 100% Chất Lượng Và Uy Tín
  • Việc chọn đất định đô xét về mặt phong thủy, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự ổn định và hưng thịnh cho cả triều đại và quốc gia. Kiến trúc kinh thành Huế chính là một trong những mẫu mực của việc áp dụng thuật phong thủy.

    Tổng thể kinh thành Huế được đặt trong khung cảnh rộng, núi cao thế đẹp, minh đường lớn và có sông uốn khúc rộng.

    Núi Ngự Bình cao hơn 100m, đỉnh bằng phẳng, dáng đẹp, tọa lạc giữa vùng đồng bằng. Hai bên là cồn Hến và cồn Dã Viên ở vào thế tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ – là một thế đất lý tưởng theo tiêu chuẩn của phong thủy. Minh đường thủy tụ là khúc sông Hương rộng nằm dài giữa hai cồn cong như một cánh cung mang lại sinh khí cho đô thành.

    Toàn cảnh Đại Nội trong kinh thành Huế

    Do quan niệm “Thánh nhân Nam diện nhi thính thiên hạ” (Thiên tử phải quay mặt về hướng Nam để cai trị thiên hạ) nhưng đồng thời phải tận dụng được thế đất đẹp nên kinh thành và các công trình trong đó được bố trí đối xứng qua trục dũng đạo, quay mặt hơi chếch về hướng Đông – Nam một góc nhỏ nhưng vẫn giữ được tư tưởng chính của thuyết phong thủy. Đây là cách sáng tạo và linh hoạt của người quy hoạch trong việc vận dụng thuyết phong thủy.

    Mặt khác, để tạo phong thủy tốt, các nhà quy hoạch không chỉ xem hướng công trình mà cần xem xét ảnh hưởng của bố trí nội thất, các bộ phận và kế cấu trong công trình như chiều dài, rộng, cao, các cột, cửa… Ví dụ: Các bộ phận của Ngọ Môn đều dựa vào những con số theo nguyên tắc của dịch học như số 5, số 9, số 100.

    Năm lối đi vào Ngọ Môn tượng trưng cho Ngũ Hành, trong đó lối vua đi thuộc hành Thổ, màu vàng. Chính bộ mái của lầu Ngũ Phụng biểu hiện con số 5 và 9 trong hào Cửu Ngũ ở Kinh Dịch, ứng với mạng thiên tử.

    Một trăm cột là tổng của các con số Hà Đồ (55) và Lạc Thư (45)… Các con số này ta lại gặp ở sân Đại Triều Nghi với 9 bậc cấp ở phần sân dưới và 5 bậc cấp ở phần sân trên.

    Trên mỗi mái của điện Thái Hòa đều được đắp nổi 9 con rồng trong các tư thế khác nhau và trong nội thất cũng tương tự (chín con rồng trong Long sinh cửu phẩm ).

    Về vị trí và phong thủy của kinh thành Huế, các sử quan triều Nguyễn đã nhận xét: “Kinh sư là nơi miền núi miền biển đều hợp về, đứng giữa miền Nam miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng; đường thủy thì có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ thì có Hoành Sơn, ải Hải Vân ngăn chặn; sông lớn giữ phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuốn hổ ngồi, hình thể vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt, thật là thượng đô của nhà vua”.

    Nguồn: Phong Thuy – Thế Giới Phong Thuy

    Bài Đăng Liên Quan

    Tags: phong thủy cố đô huế, phong thủy cung đình, phong thủy học, phong thủy huế, phong thủy kinh thành huế, phong thủy kinh đô huế, phong thủy phong kiến, phong thủy quốc gia, phong thủy tạp luận, phong thủy thành phố huế, phong thủy thừa thiên huế, phong thủy triều đình, phong thủy đất huế, phong thủy địa thế, địa thế phong thủy huế

    Phong Thuy – Phong Thuy Hoc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tư Vấn Phong Thủy Quốc Tế
  • Nam Sinh Năm 1964 Tuổi Giáp Thìn Xem Phong Thủy Hướng Nhà Ở Tốt Hợp
  • Tử Vi Tuổi Giáp Thìn 2021
  • Sinh Năm 1964 Mệnh Gì? Vòng Phong Thủy Hợp Tuổi Giáp Thìn Năm 2021
  • Hướng Dẫn Cách Tìm Thầy Phong Thủy Giỏi Ở Hà Nội
  • Bí Mật Phong Thủy Đằng Sau Kiến Trúc Độc Đáo Của Kinh Thành Huế Thời Nhà Nguyễn

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiến Trúc Phong Thủy Cố Đô Huế
  • Những Lỗi Thiết Kế Nhà Phạm Phong Thủy Cần Tránh
  • Điều Bí Ấn Trong Thiết Kế ‘sân Vườn Trung Quốc’ Theo Thuật Phong Thủy Dân Gian.
  • Mua Sách Phong Thủy Ứng Dụng Trong Kiến Trúc Hiện Đại Giảm Giá
  • Vật Phẩm Hoá Sát Phong Thuỷ
  • Lịch sử như dòng sông dài cuốn đi trong lớp sóng của nó bao nhiêu sự tích, chiến công, thành bại của cả một dân tộc. Việt Nam 4.000 năm văn hiến với nhiều triều đại kiệt xuất thấm đẫm văn hóa Phật Đạo đã đem đến cho dải đất xinh đẹp này biết bao nhiêu kỳ tích và truyền kỳ vẫn còn rọi sáng đến tận hôm nay.

    Trong các di sản còn lại của thời phong kiến thì kinh thành Huế là còn nguyên vẹn và tiêu biểu nhất. Kiến trúc của kinh thành chính là thể hiện tầm vóc và sinh khí của cả dân tộc.

    Duyệt Thị Đường: Nhã nhạc cung đình, giải trí để di dưỡng tinh thần cao thượng

    Giải trí là một phần rất quan trọng trong đời sống con người, để giảm bớt áp lực công việc và nghỉ ngơi thư giãn. Đối với Hoàng đế chuyện đó cũng không ngoại lệ. Thế nên nhà hát hoàng gia lớn nhất đã được thi công ngay trong Cấm Thành vào năm Minh Mạng thứ 7 (1826). Nhà hát mang tên Duyệt Thị Đường nghĩa là “Nơi để xem xét điều phải trái”, là nơi biểu diễn các vở tuồng cho vua, hoàng gia và các quan khách.

    Nhà hát hình chữ nhật, rộng rãi với bộ mái có bờ quyết cong giống như những đình chùa ở Huế, được chống đỡ bởi hai hàng cột lim sơn son có chiều cao 12m, vẽ rồng ẩn mây cuốn xung quanh và được chia làm 2 tầng. Ở lưng chừng mỗi cột treo thêm một bức tranh sơn thuỷ vẽ cảnh Huế với khung chạm rồng nổi thiếp vàng. Trên cao hơn, Mặt Trời, Mặt Trăng, tinh tú tượng trưng cho vũ trụ được vẽ hoặc chạm nổi lên trần nhà màu xanh lơ. Tòa nhà nối liền với các cung điện của nhà vua và các bà hoàng bằng một dãy hành lang có mái khúc khuỷu, quanh co.

    Vì là để biểu diễn cho vua xem nên nội dung các vở tuồng cũng như âm nhạc đều có yêu cầu rất cao về nghệ thuật cũng như ý nghĩa với mục đích là giải trí phải giúp tu dưỡng tinh thần nhà vua, không phải để phóng túng tâm tham dật và ham hưởng lạc. Ngay cả cái tên Duyệt Thị Đường cũng đã thể hiện rất rõ điều này.

    Những năm 1820 – 1840, vua Minh Mạng cho xây dựng Nhà hát lớn Duyệt Thị Đường (1824-1826), đổi Việt tương đội thành Thanh bình thự, lập thêm một Đội nữ nhạc với 50 ca nữ, vũ nữ, lại cho xây dựng nhà thờ các tổ sư nghệ thuật âm nhạc và hát bội Huế: Thanh bình từ đường. Trước nhà thờ dựng một tấm bia, một sân khấu hát bội và ca vũ nhạc.

    Thế Miếu, Cửu Đỉnh, Hiển Lâm Các: Kế thừa ý chí tiên vương

    Từ Diên Thọ cung đi về phía Tây Nam của Tử Cấm Thành là đến quần thể thờ cúng của vua gồm có Thế Tổ Miếu, Cửu Đỉnh và Hiển Lâm Các. Đây là những công trình quan trọng bậc nhất trong Hoàng thành Huế.

    Sự quan trọng này khởi nguồn từ yếu tố tâm linh truyền thống và phong thủy của tòa kinh thành. Như đã nói, để hoàn thành đế nghiệp cho dòng họ, các chúa Nguyễn bỏ ra hơn 200 năm gây dựng âm đức, tụ linh sinh long mạch và khởi công dựng kinh đô. Việc tích âm đức quan trọng nhất, chính là được truyền thừa từ đời này qua đời khác. Một trong những hình thức đó chính là thờ cúng tổ tiên và xây dựng nơi yên nghỉ của tiền nhân.

    Ngoài ra, mộ phần và sự thờ cúng tổ tiên trong Bát Tự lý số lại đóng vai trò là Thiên Tài (chủ về tài chính, tài lộc) của chủ mệnh Hoàng đế. Nếu mộ phần được chăm sóc thờ cúng tốt thì Hoàng đế sẽ luôn vượng tài. Ngoài ra, Tài mà mạnh sẽ sinh xuất bản mệnh vua, khiến cho nó bớt mạnh mẽ, trở nên nhu hòa hơn, cũng chính là lý trí và không cực đoan. Điều này rất cần thiết bởi vốn dĩ đế vương bản mệnh ai cũng rất mạnh mẽ, nếu không có thứ để giảm bớt đi thì sẽ rất nguy hiểm cho quốc gia. Điều này cũng có nghĩa là khi vua thực hiện việc thờ cúng thì sẽ kế thừa tinh thần của tiên đế mà không dám phóng túng bản thân làm điều bốc đồng. Đó mới thật sự là phúc khí của quốc gia vậy.

    Hiển Lâm Các là một công trình cao nhất trong hoàng cung, không có bất kỳ công trình nào được phép xây cao hơn nó. Đây chính là nơi trưng bày, thờ cúng các chiến công của các vua đời trước cũng như ghi công các công thần khai quốc. Chiều cao của Hiển Lâm Các (làm bằng 4 cột gỗ cao 13 m) chính là thể hiện sự trọng vọng và ghi nhớ công ơn của quốc gia đối với các minh quân và công thần.

    Trong ý nghĩa phong thủy, Hiển Lâm Các thuộc Giáp Mộc (gỗ to) còn tượng trưng cho các trụ cột của triều đình luôn cao lớn mạnh mẽ để gánh vác quốc gia mãi mãi. Bởi vì Mộc (các quan nhờ Thổ hoàng gia) mà trở nên cao lớn và có giá trị, đồng thời chính là thể hiện ân trạch hoàng gia vĩnh viễn sâu dày. Toàn bộ các cây gỗ ở Hiển Lâm Các sơn màu đỏ, tượng trưng cho trí tuệ của các quan sẽ sinh vượng cho Thổ (hoàng gia) bền vững. Đó là một vòng tuần hoàn trong tự nhiên, cũng chính là đạo quân thần nhắc nhở cho cả vua và quan. Chỉ có tôn trọng đạo quân thần thì quốc gia mới hưng thịnh.

    Cửu Đỉnh đặt trước Hiển Lâm Các, đối diện Thế Miếu mang hàm nghĩa rất sâu xa. Tương truyền rằng, sau khi Hạ Vũ chia thiên hạ thành chín châu (cửu châu) thì lấy đồng của các châu đúc thành chín đỉnh (Cửu Đỉnh), khắc tinh hoa phong cảnh của chín châu vào Cửu Đỉnh, mỗi đỉnh tượng trưng cho một châu, toàn bộ cất giữ tại kinh đô nhà Hạ. Vì thế, Cửu Đỉnh trở thành biểu trưng cho quyền uy của chính quyền phong kiến và sự thống nhất quốc gia. Từ đó có câu nói: “Có được Cửu Đỉnh là có được thiên hạ”.

    Nhà Nguyễn thống nhất Việt Nam với một dải sơn hà rộng lớn chưa từng có dưới thời Minh Mạng. Bởi vậy đây cũng chính là dịp tốt nhất để tái hiện lại tích xưa, vừa có thể nêu lên uy vọng của triều đại đồng thời lưu lại một vật báu truyền quốc cho con cháu. Với ý nghĩa ấy, tháng 10 âm lịch năm 1835, vua Minh Mạng xuống dụ chỉ cho Nội các, sai đúc Cửu Đỉnh riêng cho triều đại của mình, triều Nguyễn. Dụ chỉ như sau:

    “Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc chín cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thực to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc chín cái đỉnh để ở nhà Thế miếu… Đó là để tỏ ý mong rằng muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định mà đúc”.

    Làm Hoàng đế không dễ

    Trong lịch sử, tiêu chuẩn đặt ra cho một Hoàng đế là rất cao. Những Thiên tử từ tấm bé đã phải tuân theo một nền giáo dục tiêu chuẩn cao nhất của Nho giáo, vốn ước thúc tất cả hành vi. Từ ăn nói, ngủ nghỉ đến đi đứng, nằm ngồi đều phải theo đúng lễ nghi, dưới sự giám thị của những người thầy tài năng và nghiêm khắc nhất.

    Lớn lên một chút thì Hoàng đế được học chữ Hán, Thi Thư, sách Đạo học Thánh hiền, cho đến quân sự chính trị, lịch sử cổ kim. Tất cả nhằm mục đích tạo ra một vị vua tốt nhất có thể dù đó là người có tư chất kém hay tốt như thế nào. Bởi dưới một nền tảng giáo dục như vậy tất sẽ hun đúc ra một vị vua chân chính, phong thái uy nghi, biết khắc chế dục vọng cá nhân và có kiến thức sâu rộng.

    Cứ thử nhìn vào bản chiếu chỉ của các vua nhà Nguyễn còn lưu lại (gọi là châu bản), bạn sẽ phải ngạc nhiên khi thấy từng chữ trong đó đều được viết rất đẹp, đều tăm tắp y như in ra từ máy. Người ta nói nét chữ là nết người, tâm trí của người viết bình thản và vững chắc đến mức nào để có thể viết ra được những dòng chữ đẹp như vậy?

    Mặt khác, các bậc Thiên tử cũng phải gánh chịu một áp lực khổng lồ ngay từ tấm bé, lúc được chọn làm người kế vị. Bởi thế rất nhiều ông vua sau khi lên nắm quyền đã thực sự đã phóng túng và trở thành bạo chúa. Tuy vậy đó không phải là lỗi của nền giáo dục quy chuẩn hoàng gia mà là nhân cách của vị vua đó yếu kém hơn các vị khác mà thôi. Không thể chỉ vì một vài bạo chúa mà phủ nhận công lao suốt mấy nghìn năm của các Hoàng đế và các triều đại phong kiến được.

    Lời kết

    Trải 9 đời dựng nước, với đức dày và ân uy ban bố khắp miền Đàng Trong, dẫu có trải qua chiến loạn Tây Sơn thì ngai vàng cuối cùng vẫn là của nhà Nguyễn vì sự xứng đáng duy nhất của họ. Gia Long lên ngôi đã mở ra thời kỳ trung hưng cho phong kiến Việt Nam sau một thời gian dài nội chiến đen tối. Chưa bao giờ Việt Nam lại toàn vẹn và có lãnh thổ rộng lớn nhường ấy.

    Thời phong kiến đã trôi qua nhiều năm và bụi thời gian đã phủ lên hầu hết những vàng son của quá khứ làm cho hậu nhân đôi khi đánh giá không đúng về những gì ông cha đã từng đạt được. Chỉ với đôi bàn tay, khối óc và một lối sống đạo đức chuẩn mực của Thánh hiền mà các vương triều phong kiến đã dẫn dắt dân tộc tiến bước vững chắc mấy ngàn năm.

    Dẫu có thăng trầm thành bại nhưng các bậc đế vương đã hết sức cố gắng đảm bảo sự lãnh đạo của mình đạt được tiêu chuẩn cao nhất dẫu là với một vị vua có tư chất thấp nhất. Họ đã làm được điều kỳ diệu đó bằng những kiến thức triết học, khoa học phong thủy huyền diệu.

    Cổng thông tin Du lịch Thừa Thiên Huế

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bí Mật Phong Thủy Đằng Sau Kiến Trúc Độc Đáo Của Kinh Thành Huế Thời Nhà Nguyễn (P.2)
  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Xem Phong Thuỷ Từ Xa
  • Kiến Trúc Phong Thủy Hoàng Điền, Phongthuyvnn.com
  • Kiến Trúc Phong Thủy Hoàng Điền
  • Tầm Quan Trọng Của Phong Thủy Trong Kiến Trúc
  • Bí Mật Phong Thủy Đằng Sau Kiến Trúc Độc Đáo Của Kinh Thành Huế Thời Nhà Nguyễn (P.2)

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Mật Phong Thủy Đằng Sau Kiến Trúc Độc Đáo Của Kinh Thành Huế Thời Nhà Nguyễn
  • Kiến Trúc Phong Thủy Cố Đô Huế
  • Những Lỗi Thiết Kế Nhà Phạm Phong Thủy Cần Tránh
  • Điều Bí Ấn Trong Thiết Kế ‘sân Vườn Trung Quốc’ Theo Thuật Phong Thủy Dân Gian.
  • Mua Sách Phong Thủy Ứng Dụng Trong Kiến Trúc Hiện Đại Giảm Giá
  • Cổng nghi môn và ngọ môn, giữa là cầu trung đạo. Ảnh dẫn theo chúng tôi

    Cầu Trung Đạo nằm trên trục Dũng Đạo là trục thiết kế chính của kinh thành Huế. Tất cả các kiến trúc của kinh thành đều đăng đối dựa trên trục này, thể hiện một tư duy trung dung và hài hòa, vốn là điều người xưa luôn vươn đến. Sống trong một kiến trúc hài hòa và hoàn mỹ về phong thủy như vậy, liệu người ta có thể nào sinh ra tư tưởng cực đoan không?

    Đến cuối Cầu Trung Đạo lại có thêm một lời nhắc nhở nữa dành cho vua quan trước khi bước vào điện Thái Hòa. Đó là một nghi môn có gắn 4 chữ lớn nổi ” Trung hòa vị dục ” ở mặt trong. Trung là gốc của thiên hạ, hoà là đạt đạo của thiên hạ, khi đã đạt được “trung hoà” thì trời đất yên ổn, vạn vật sinh sôi. Câu này phù hợp với ý nghĩa của chữ “Thái Hoà” ở quẻ Càn trong Kinh Dịch.

    Ở mặt ngoài nghi môn là dòng chữ “C hính đại quang minh”. Hai câu này chính là tổng kết và nhắc nhở thêm một lần nữa về tầm quan trọng của việc thi hành chính sách chính trị đặt trọng tâm ở chữ Hòa và phải luôn minh bạch, chính trực như ánh Mặt Trời, làm gương cho muôn dân.

    Băng qua sân Đại Triều Nghi là đến điện Thái Hòa, là tòa cung điện đẹp và nguy nga nhất hoàng cung. Đây là nơi đăng quang của Hoàng đế, nơi thiết triều nên cũng là trung tâm của hoàng thành và trung tâm quyền lực của cả quốc gia.

    Bước vào trong nội điện là ngai vàng lấp lánh đặt trên sập ngự với bửu tán che trên đầu vua. Ta có thể dễ dàng thấy hàng trăm bài thơ chữ Hán và các bức tranh đan xen với nhau theo lối Nhất Thi Nhất Họa. Nội dung các bài thơ chính là mang ý nghĩa cát tường, ca ngợi đất nước văn hiến, hùng cường, ca ngợi non sông gấm vóc, ca ngợi triều Nguyễn với công lao to lớn thống nhất giang sơn, mở rộng bờ cõi, ca ngợi triều đại thịnh trị. và mong muốn quân vương trị vì tạo nên hòa bình thịnh thế. Ví dụ:

    Nước ngàn năm văn hiến Cơ đồ muôn dặm xa Từ Hồng Bàng mở cõi Trời nam một sơn hà Điện Thái Hòa. Ảnh dẫn theo chúng tôi

    Tên điện Thái Hòa bắt nguồn từ Quẻ Thuần Càn trong Kinh Dịch. Quẻ này tượng trưng cho Thiên Đạo và cũng ám chỉ nhà vua . Quẻ Càn này có 4 đặc điểm là Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh mang ý nghĩa cát tường như sau:

    4 chữ này chính là để mô tả bốn giai đoạn tuần hoàn của Thiên Đạo thể hiện trong vạn vật, cũng chính là quy tắc mà đế vương phải biết để điều chỉnh sự cai trị của mình cho phù hợp:

    Nguyên (Đại tại càn nguyên, vạn vật tư thỉ, nải thống thiên). Đạo trời là căn nguyên sinh ra, làm cho vạn vật phát triển. Quốc gia bách tính cũng như vậy. Đều do từ Đạo lớn mà vận hành.

    Hanh (Vân hành vũ hí, phẩm vật lưu hình. Đại minh chung thỉ, lục vị thì thành, thì thừa lục long, dĩ ngự thiên). Nhờ căn nguyên ấy, nhờ nguồn sống vô biên ấy, vạn vật trở nên lớn mạnh, phát huy được mọi tiềm năng, tiềm lực. Nên đạo trị quốc chính là làm cho chính sự thông suốt, đơn giản tự nhiên mà hiệu quả, giảm bớt gánh nặng của dân mới là thuận theo đạo mà đạt được hanh thông vậy. Người cai trị không phải ở chỗ tích lũy mà ở chỗ làm cho đạo Trời tuần hoàn không bế tắc. Ý là nói vua phải luôn luôn tu thân sửa mình.

    Lợi Trinh (Càn đạo biến hóa, các chính tính mệnh, bảo hợp thái hòa, nãi lợi trinh. Thủ xuất thứ vạt, vạn quốc hoàn minh). Phát triển theo Đạo, thuận tự nhiên nên nhờ vậy mà luôn thuận lợi nhẹ nhàng. Chính sự hanh thông từ đạo đức và thiện tâm của nhà vua khi thi hành Thiên Đạo tất sẽ tự nhiên đem đến cái lợi cho sự cai trị chứ không phải dùng công cụ hình pháp hay các biện pháp vơ vét khác.

    Lợi ở đây chính là lợi cho quốc gia, lợi cho bách tính thì tự nhiên vua sẽ được lợi. Thánh nhân trị vì chính là lấy cái lợi ích của bá tánh đặt trước lợi ích của bản thân mà được cái lợi lâu dài vĩnh viễn thịnh trị cho quốc gia cùa mình, đó là chữ Lợi. Sau khi thi hành Thiên Đạo trong cai trị một cách hoàn hảo nhất, cuối cùng nhà vua sẽ đi đến chỗ thành tựu, đến chỗ hoàn thiện, trở thành Thánh nhân lưu lại công nghiệp thiên cổ, đó là chữ Trinh.

    Như vậy chỉ dùng bốn chữ Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh mà vẽ được tất cả vòng biến thiên, tiến hoá của Trời Đất, từ lúc manh nha (Nguyên) cho đến lúc kết quả (Trinh) hay cũng chính là 1 quy trình cai trị quốc gia từ lúc lên ngôi cho đến lúc băng hà. Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh ứng vào bốn mùa là Xuân, Hạ, Thu, Đông, và ứng vào tiết tấu biến dịch là: Sinh, Trưởng, Liễm, Tàng. Là bài học lớn mà bất kỳ ông vua nào cũng phải ráng thực hành suốt cả đời mình để đạt được 4 chữ này.

    Tóm lại, ý nghĩa của Điện Thái Hòa là thể hiện bài học về trị vì thiên hạ theo Đạo Trời. Thánh đế trị vì thiên hạ chính là người đã giác ngộ được cái căn nguyên của Đạo Trời nơi lòng mình (Nguyên), nên sẽ dùng quốc gia, thời gian, chính sách làm môi trường để tu luyện, để phát huy mọi khả năng biến hóa của Thiên Đạo nơi tự thân (Hanh), để đạt tới đỉnh cao lợi ích cho toàn dân (Lợi), để giáo hóa dân chúng đến tận thiện, làm cho mọi người sống trong cảnh thái bình, an lạc và để lại công nghiệp muôn đời (Trinh).

    Tử Cấm Thành: Nơi tu dưỡng đạo đức và tinh thần trong đời sống cá nhân của Hoàng đế

    Từ điện Thái Hòa ra phía sau sẽ đến Đại Cung Môn, chính là cửa lớn để ra vào Tử Cấm Thành. Đây là nơi ở chính thức của vua, hoàng hậu và các cung tần trong tam cung lục viện. Ví lý do đó nên từ kiến trúc đến tên gọi của các cung điện ở đây luôn được thiết kế với chuẩn mực cao nhất.

    Tử Cấm Thành nghĩa là thành cấm màu tía. Theo nghĩa Hán tự, chữ Tử có nghĩa là màu tím, lấy ý theo thần thoại: Tử Vi Viên ở trên trời là nơi ở của Trời, Vua là con Trời nên nơi ở của Vua cũng gọi là Tử. Cấm Thành là khu thành cấm màu tím cấm dân thường ra vào.

    Nói cách khác thì kiến trúc Tử Cấm Thành chính là thể hiện mở rộng của Quẻ Càn (tượng trưng vua và Trời) dùng trong điện Thái Hòa. Một cách tổng quan, ta sẽ thấy kiến trúc này khiến cho người sống bên trong nó phải sống tuân theo một chuẩn mực đạo đức khắt khe chưa từng có. Thực chất làm vua phong kiến không đơn giản như mọi người vẫn tưởng.

    Tử cấm thành. Ảnh dẫn theo chúng tôi Cần Chánh Điện: Tinh thần làm việc vì dân vì nước

    Qua Đại Cung Môn ta sẽ thấy hai bên 2 tòa nhà Tả Vu và Hữu Vu dành cho quan văn võ chuẩn bị triều phục trước khi vào chầu vua ở điện Cần Chánh. Hai tòa nhà này chính là ứng vào hai ngôi sao Tả Phù và Hữu Bật vốn là trợ thủ đắc lực của Tử Vi trên trời. Chái bắc Tả Từ Vu là viện Cơ Mật, chái nam là phòng Nội Các, nơi đây tập trung phiến tấu của các Bộ, Nha trình vua ngự lãm.

    Vì sao lại chia ra văn võ 2 ban như vậy? Chính là trị quốc cần làm tốt 2 mặt cứng mềm, văn võ phải song toàn chứ không thiên lệch bên nào cả. Làm vua càng phải rèn luyện binh pháp thao lược cũng như trau dồi văn tài mới có thể cầm cương quần thần hiệu quả.

    Sau hai tòa Tả Hữu Vu sẽ đến điện Cần Chánh, là nơi làm việc và sinh hoạt ăn uống chính của nhà vua. Cần Chánh mang nghĩa là làm vua phải siêng năng với công việc cai trị của mình, phải cần chánh thì mới quản được Tả Hữu Vu kia. Hãy xem lịch làm việc 1 ngày của vua như thế nào thì gọi là “cần chánh”.

    Trong: Một chuyến du hành đến xứ Nam Hà (1792-1793), John Barrow viết về một ngày của Gia Long như sau:

    ” Để cho phép mình tham dự một cách tốt hơn vào các vấn đề của chính quyền, cuộc sống của ông được điều phối bằng một kế hoạch không đổi. Vào 6 giờ sáng ông trở dậy và đi tắm nước lạnh. Vào 7 giờ sáng ông gặp các quan. Tất cả các lá thư đã nhận được ngày hôm qua được đọc, và lệnh của ông được các thư ký ghi chép lại. Sau đó ông đến xưởng vũ khí hải quân, kiểm tra các công việc được thực hiện trong thời gian ông vắng mặt, đi thuyền chèo quanh cảng, kiểm tra các tàu chiến. Ông đặc biệt chú tâm đến ban hậu cần. Và trong xưởng đúc, được dựng trong khu xưởng vũ khí, đại bác được đúc theo mọi kích cỡ. Đến 12 giờ hoặc 1 giờ, ông ăn sáng trong sân cảng, gồm có một ít cơm và cá khô. Đến 2 giờ, ông về phòng và ngủ đến 5 giờ. Đến lúc ấy ông trở dậy, gặp mặt các sỹ quan thủy quân và quân đội, những người đứng đầu tòa án hoặc phòng ban công cộng, và thông qua, loại bỏ, hoặc sửa đổi những gì họ đề xuất. Những công việc này thường sẽ đòi hỏi ông phải làm việc đến nửa đêm. Sau đó ông về phòng riêng để ghi chép và lập biên bản những việc đã xảy ra trong ngày. Sau đó ông ăn tối nhẹ, dành một tiếng đồng hồ với gia đình, và về giường lúc hai đến ba giờ sáng; như vậy, ông ngủ làm hai đợt, khoảng sáu tiếng trên hai mươi bốn tiếng. Ông không dùng rượu Trung Quốc, hoặc bất kỳ loại rượu chưng cất nào, và chỉ cần rất ít thịt là đủ rồi. Một ít cá, cơm, rau và hoa quả, với trà và bánh ngọt, là những món ăn chính trong thực đơn của ông… Thân hình ông cỡ trung bình; diện mạo cân đối và dễ gần; da hung đỏ, rất rám nắng do liên tục tiếp xúc với thời tiết. Đến thời điểm này (1806), ông mới vừa bước sang tuổi năm mươi”.

    Tử Cấm Thành đã coi như là nơi riêng tư để Hoàng đế sinh hoạt. Thế nhưng sinh hoạt đó lại phải xoay quanh việc chính là thiết triều để xử lý công việc nên điện Cần Chánh mới được thiết kế ở vị trí đầu tiên ngay khi bước vào Đại Nội. Điều đó cũng nói lên rằng ưu tiên lớn nhất của việc làm vua chính là chính sự.

    Làm vua chính là gánh vác mối lo của trăm họ nên ngay cả nơi ngủ nghỉ cũng phải ưu tiên cho công việc rồi sau đó mới đến giải trí cá nhân. Thế mới đúng là: “Lo trước nỗi lo thiên hạ, vui sau niềm vui thiên hạ”. Chỉ khi làm được vậy mới có thể khiến cho triều đại của mình được Nguyên Hanh Lợi Trinh và đạt đến Thái Hòa.

    Nói trên khía cạnh phong thủy và Dịch học thì thiết kế Cấm Thành với Cần Chánh điện chính là theo nguyên tắc “Dương trưởng âm tiêu”, khiến cho tinh thần Hoàng đế hăng hái làm việc, nhân cách hướng thượng sinh ra Dương khí mạnh mẽ để cân bằng lại khí Âm mạnh mẽ của sự vui chơi hưởng lạc ở Tam Cung Lục Viện ngay đằng sau. Điều đó sẽ khiến nơi ở của nhà vua đạt đến sự hài hòa, khiến cho mọi chuyện cát tường.

    Cung Càn Thanh và Khôn Thái: Duy hộ đạo đức nội cung, hạn chế ăn chơi hưởng lạc:

    Có câu “Vạn ác dâm vi thủ”, ý nói tham đắm nữ sắc dâm dục là điều cấm kỵ của toàn xã hội, không phân biệt vua chúa hay dân chúng. Chính vì lẽ đó, các bậc vua sáng nghiệp luôn rất lo lắng về chuyện con cháu mình ăn chơi hưởng lạc, sa đọa trong nhục dục mà để mất nước. Vậy nên khi xây dựng Tam Cung Lục Viện, các Hoàng đế đã rất chú ý vấn đề này, luôn để lại những lời nhắc nhở cho hậu nhân.

    Do đó sau điện Cần Chánh, chúng ta sẽ bàn đến 2 cung điện Càn Thanh và Khôn Thái. Đây là 2 cung điện dành cho vua và hoàng hậu ngủ nghỉ.

    Điện Càn Thanh trước năm 1811 gọi là điện Trung Hòa (trong câu “Trung hòa vị dục”) là nơi vua ở, trước điện có cái sân rộng, ao sen và bức bình phong chắn điện Càn Thanh và điện Cần Chánh. Điện nằm ngay trung tâm Tử Cấm Thành đặt trên nền cao 2 thước 3 tấc (gần 1m), được làm theo lối trùng thiềm điệp ốc gồm 3 tòa nhà ghép nối với nhau, chính điện 7 gian 2 chái kép, tiền điện và hậu điện đều 9 gian 2 chái đơn, nối với nhau bằng hai trần vỏ cua đỡ hai máng nước bằng đồng dài 50m, mái lợp ngói lưu ly vàng và lắp cửa kính. Hành lang vòng hai bên điện nối với điện Cần Chánh ở phía Nam và điện Cao Minh Trung Chính ở phía Bắc, hành lang bên hữu nối ra cung Diên Thọ.

    Một góc điện Cần Chánh, do chiến tranh một số công trình đã bị phá hủy. Ảnh dẫn theo chúng tôi

    Càn Thanh có nghĩa là bầu trời sáng đẹp trong xanh, chính là mang ý nghĩa mong cho tâm tư Hoàng đế lúc nào cũng sáng suốt và phẳng lặng như trời xanh. Điểm quan trọng nhất khi Thiên tử sinh hoạt ngủ nghỉ chính là phải làm sao đạt được trạng thái thân tâm thuần tịnh, hài hòa để có thể chiêm nghiệm và hiểu thêm đạo Trời.

    Điều này nghe có vẻ khó hiểu với các lãnh đạo hiện nay nhưng Hoàng đế thời xưa chính là luôn mong muốn bản thân tu hành đắc Đạo ngay trong lúc làm vua hay ít ra phải đạt được lối sống của một người tu hành nơi trần thế. Bởi vì chỉ có trong tâm thái thanh tịnh của cuộc sống đó thì nhà vua mới có thể trị vì tốt quốc gia của mình mà lập nên công nghiệp lưu danh thiên cổ. Hãy xem câu chuyện cầu Đạo của Hoàng Đế Hiên Viên:

    “Lần này Hoàng Đế đơn độc một mình, yên lặng đi lên núi Không Động. Lúc này Hoàng Đế đã học được cung cách khiêm tốn, trên đường đi gặp được một vị trưởng giả (tức là tiên ông Xích Tùng Tử). Xích Tùng Tử chỉ điểm cho Hoàng Đế rằng: “Tiên và phàm là không có biên giới, chỉ phân biệt ở trong tâm. Nếu không quản ngại lê bước trên đầu gối, thì lòng thành đó sẽ mở ra cả trăm cửa”. Trên đường đi, Hoàng Đế không ngừng suy nghĩ ý nghĩa của câu nói này. Đến khi đôi giầy của ông đã hoàn toàn mòn quẹt rách rưới, và bàn chân đau đến độ không thể đi bộ nổi nữa, ông đột nhiên tỉnh ngộ, quyết tâm đi tới núi Không Động bằng đầu gối. Đá và cát sỏi giống như dao cắt, cứa đầu gối của ông đến chảy máu. Máu của ông nhuộm đỏ cả đá trên đường đi. Quảng Thành Tử đã sớm biết sự việc Hoàng Đế lại đến cầu Đạo. Lòng thành và ý chí kiên trì của Hoàng Đế đã làm tiên ông Quảng Thành Tử cảm động. Lúc Hoàng Đế bò đến dưới chân núi Không Động, Quảng Thành Tử lập tức phái một con rồng vàng xuống chở ông lên núi. Sau đó Quảng Thành Tử đã truyền Đạo cho Hoàng Đế. Khi Hoàng Đế trở về nước, cứ y theo con đường mà tiên ông Quảng Thành Tử dạy bảo, yên lặng tu dưỡng thân tâm. Khi Hoàng Đế được 120 tuổi thì ông cưỡi rồng bay lên Trời giữa ban ngày”.

    Gần hơn nữa thì chính triều đại Nhà Trần có Trần Nhân Tông là vị vua của vương triều kính Phật số một Việt Nam, đã tu hành đắc Đạo, lập nên Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nước Đại Việt dưới thời ông đã đánh bại quân thù hùng mạnh nhất thế giới, trở nên hùng cường nhất trong lịch sử.

    Vì trí huệ chỉ phát sinh trong lúc tĩnh lặng nhất hay trong trạng thái thiền định nên kiến trúc của cung Càn Thanh cao to đẹp đẽ mà lại đơn giản thanh thoát khi phía trước chỉ có một sân rộng, bình phong và hồ nước nhỏ. Tất cả đều thiết kế với mục đích không làm xao nhãng sự tĩnh tâm của Thiên tử.

    Sau lưng điện Càn Thanh là cung Khôn Thái, nơi ở của Hoàng Quý Phi (nhà Nguyễn không lập Hoàng Hậu). Khôn Thái tức là mặt đất tươi đẹp, tên này lấy từ quẻ Địa Thiên Thái trong Kinh Dịch. Nó gồm sự kết hợp của quẻ Càn và quẻ Khôn, chính là tượng trời đất giao hòa, âm dương phối triển sản sinh vạn vật. Nó cũng như sự hòa hợp của vua và vợ, cần phải có đức dày, ổn trọng và nuôi dưỡng nguồn sống của vạn vật và sinh ra người kế tục cho hoàng triều.

    Điện chính của cung Khôn Thái là Cao Minh Trung Chính, chính là biểu dương cho đức hạnh của Hoàng quý phi giống như mặt trăng đêm rằm cao vời, sáng tỏ, tròn đầy ngay chính để xứng là bậc mẫu nghi thiên hạ.

    Các cung điện khác của các phi tần còn lại gồm có viện Thuận Huy, là chỗ ở các bà Tân. Phía tây viện Thuận Huy là viện Đoan Huy, Đoan Thuận, Đoan Hoà, Đoan Trang và Đoan trường, là chỗ ở của các bậc Tiệp dư, Tài nhân, Mỹ nhân, Quý nhân cùng những tài nhân vị nhập giai, các viện trên gọi là “lục viện”.

    Tên gọi các viện đều lấy chữ Đoan trong Đoan Chánh, nguồn gốc từ câu của Trang Tử: ” Đoan chánh nhi bất tri dĩ vi nghĩa, tương ái nhi bất tri dĩ vi nhân”. Ý tứ là ngay thẳng mà không biết thế nào là nghĩa, thương yêu mà không biết thế nào là nhân. Hàm ý là các phi tần còn lại phải sống đạo đức ngay chính, hạn chế việc câu dẫn Hoàng Đế bằng nhan sắc. Quả thật là suốt 9 đời chúa 13 đời vua Nguyễn không hề có một ông vua nào bị hủy hoại bởi tham đắm nữ sắc cả.

    Cung Diên Thọ và Trường Sanh: Nêu cao Đạo Hiếu, đề cao luân lý, làm gương cho dân:

    Có câu: ” Bách thiện hiếu vi tiên “. Hiếu đễ chính là quy chuẩn đạo đức quan trọng nhất mà vậc đế vương đạt đạo ắt phải luôn nghiêm cẩn tuân theo. Chính vì thế nên Cung Càn Thanh có một trường lang dẫn thẳng đến cung Diên Thọ và Trường Sanh, nơi ở của Thái hậu. Mục đích là để nhà vua có thể thuận tiện đến vấn an Thái hậu bất cứ lúc nào, thể hiện lòng hiếu thuận.

    Xét theo phong thủy lý số thì Ngũ hành của mẹ chính là sinh vượng cho con trai. Nhà vua ở gần mẹ để nghe lời chỉ dạy cũng như thấm nhuần đạo đức của mẹ mình mà cai trị ngày càng tốt hơn.

    Cung Diên Thọ gồm có Diên Thọ chính điện, điện Thọ Ninh, lầu Tịnh Minh, tạ Trường Du, các Khang Ninh. Các công trình này được nối kết với nhau bằng hệ thống hành lang có mái che.

    Cung Diên Thọ. Ảnh dẫn theo chúng tôi

    Tên các cung điện nói lên sự cầu chúc cho Thái hậu được trường thọ và khỏe mạnh (Diên Thọ, Thọ Ninh, Khang Ninh). Sự trường thọ và khỏe mạnh này chính là đảm bảo cho phúc đức nhà vua được lâu dài vậy. Bản thân nhà vua cũng không dám và sẽ không bao giờ lỗi đạo Hiếu. Tất cả các vua chúa nhà Nguyễn các đời đều là những người con rất có hiếu vậy. Vua Tự Đức khi xây lại cung cho mẹ mình đã dụ như sau:

    “Từ trước đế vương hiếu thờ cha mẹ, trong có phòng nghỉ, ngoài có cung triều, lễ rất tôn nghiêm, phép rất lớn lao. Trẫm lấy thân nhỏ mọn, được nối nghiệp lớn, thực là nghĩ đức tính hiếu từ, phép dạy phải nghĩa của Thánh mẫu nên đến được như thế”.

    Nguồn: Tĩnh Thủy/ĐKN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Cần Lưu Ý Khi Xem Phong Thuỷ Từ Xa
  • Kiến Trúc Phong Thủy Hoàng Điền, Phongthuyvnn.com
  • Kiến Trúc Phong Thủy Hoàng Điền
  • Tầm Quan Trọng Của Phong Thủy Trong Kiến Trúc
  • Nhìn Nhận Chính Xác Khái Niệm Phong Thủy Và Vai Trò Phong Thủy Trong Kiến Trúc
  • Phong Thủy Nhà Ở Đưa Kinh Doanh Đến Thành Công

    --- Bài mới hơn ---

  • Xem Phong Thủy Nhà Ở Tuổi Giáp Dần 1974 Năm 2021
  • Phong Thủy Nhà Ở Tuổi Giáp Dần 1974
  • Xây Nhà 4 Tầng Có Tốt Không?
  • Cách Hóa Giải Phong Thủy Cho Những Căn Nhà Gần Bệnh Viện
  • Tìm Hiểu Về Phong Thủy Nhà Hàng
  • Phong thủy là học thuyết chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước đến đời sống họa phúc của con người. Về mặt từ nguyên, phong có nghĩa là “gió”, là hiện tượng không khí chuyển động và thủy có nghĩa là”nước”, là dòng nước tượng trưng cho địa thế.

    Phong thủy không phải là yếu tố đơn lẻ mà là tổng hợp hàng loạt yếu tố về địa hình, địa thế xung quanh nhà ở, thôn xóm, thành phố hoặc mồ mả, hướng gió, dòng nước cùng tọa hướng, hình dạng, bố cục mặt bằng không gian xây dựng. Khi các yếu tố này đạt được sự cân bằng thì sức khỏe, tài lộc và các mối quan hệ tốt hơn tự nhiên sẽ đến; mang lại cho chủ nhân sự thúc đẩy và động lực để đi tới thành công.

    Nhà xuất bản Thanh Hóa giới thiệu bạn đọc cuốn sách:” Phong thủy nhà ở đưa kinh doanh đến thành công”, đặc biệt là hướng dẫn cách bố trí và sắp xếp mọi thứ trong và ngoài nhà ở, cũng như cách phối hợp các yếu tố về không gian, thời gian và khí sao cho chúng tương tác với nhau, và trên hết là đạt được sự cân bằng giữa các yếu tố đó nhằm thúc đẩy tài vận đưa kinh doanh đến thành công.

    Sách được bố cục rõ ràng với 3 phần sau đây:

    Phần 1: Phong thủy nhà ở đưa kinh doanh đến thành công

    Phần 2: Phong thủy chọn lành tránh dữ hiệu quả

    Phần 3: Những điều kiêng kỵ của nhà ở đưa kinh doanh đến thành công

    Phụ lục: Chọn hướng nhà ở hợp phong thủy với gia chủ

    Sách được in đẹp, khổ 19 x 27cm,400 trang, giá bìa: 350.000 đồng/cuốn

    Phong thủy là học thuyết chuyên nghiên cứu sự ảnh hưởng của hướng gió, hướng khí, mạch nước đến đời sống họa phúc của con người. Về mặt từ nguyên, phong có nghĩa là “gió”, là hiện tượng không khí chuyển động và thủy có nghĩa là”nước”, là dòng nước tượng trưng cho địa thế.

    Phong thủy không phải là yếu tố đơn lẻ mà là tổng hợp hàng loạt yếu tố về địa hình, địa thế xung quanh nhà ở, thôn xóm, thành phố hoặc mồ mả, hướng gió, dòng nước cùng tọa hướng, hình dạng, bố cục mặt bằng không gian xây dựng. Khi các yếu tố này đạt được sự cân bằng thì sức khỏe, tài lộc và các mối quan hệ tốt hơn tự nhiên sẽ đến; mang lại cho chủ nhân sự thúc đẩy và động lực để đi tới thành công.

    Nhà xuất bản Thanh Hóa giới thiệu bạn đọc cuốn sách:” Phong thủy nhà ở đưa kinh doanh đến thành công”, đặc biệt là hướng dẫn cách bố trí và sắp xếp mọi thứ trong và ngoài nhà ở, cũng như cách phối hợp các yếu tố về không gian, thời gian và khí sao cho chúng tương tác với nhau, và trên hết là đạt được sự cân bằng giữa các yếu tố đó nhằm thúc đẩy tài vận đưa kinh doanh đến thành công.

    Sách được bố cục rõ ràng với 3 phần sau đây:

    Phần 1: Phong thủy nhà ở đưa kinh doanh đến thành công

    Phần 2: Phong thủy chọn lành tránh dữ hiệu quả

    Phần 3: Những điều kiêng kỵ của nhà ở đưa kinh doanh đến thành công

    Phụ lục: Chọn hướng nhà ở hợp phong thủy với gia chủ

    Sách được in đẹp, khổ 19 x 27cm,400 trang, giá bìa: 350.000 đồng/cuốn . xb ” 9/ 2021 – Mã sp : dfdf35000195

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những “cấm Kỵ” Trong Phong Thủy Nhà Ở Cần Phải Tránh
  • Hướng Dẫn Cách Xem Phong Thủy Khi Mua Nhà Phố, Căn Hộ Chung Cư
  • Ghi Nhớ Những Yếu Tố Phong Thủy Khi Mua Nhà Bình Dương!
  • Top 6 Đại Kỵ Phong Thủy Nhà Ở Và Cách Hóa Giải Đơn Giản
  • Phong Thủy Nhà Ở Cho Người Mệnh Mộc Thiết Kế Nhà Cho Người Mệnh Mộc
  • Cách Treo Tranh Phong Thủy Giúp Kinh Doanh Thành Đạt

    --- Bài mới hơn ---

  • Treo Tranh Cát Tường Phong Thủy
  • Tranh Treo Trên Tường Không Được Chọn Lựa Tùy Tiện
  • Cách Chọn Tranh Phong Thủy Cho Người Tuổi Sửu Treo Phòng Khách
  • Chọn Tranh Treo Phòng Khách Cho Người Tuổi Sửu Ai Cũng Nên Đọc
  • Tranh Treo Tường Hợp Tuổi Kỷ Mùi 1979
  • Ngoài nỗ lực của bản thân, những ai mong muốn có thêm niềm tin, may mắn để kinh doanh thành đạt, trở thành người giàu sang, phú quý…có thể nhờ cậy đến phong thủy bằng cách treo tranh cát tường trong nhà.

    1. Tranh hoa mẫu đơn

    Không nên trồng nhiều hoa mẫu đơn quá gần ngôi nhà, nhưng tranh vẽ về loài hoa này thì nên treo trong nhà hoặc công sở với ý nghĩa “chiêu” giàu sang phú quý. Tại Trung Quốc, hoa mẫu đơn thường được gọi là “quốc sắc thiên hương”, là biểu tượng của phú quý, đây cũng là nguồn gốc của việc treo tranh về loài hoa này.

    2. Tranh vẽ cò trắng

    Trong âm Hán, con cò đọc là lộ, đồng âm với con đường. Do đó, tranh vẽ một con cò trắng đậu trên lá sen sẽ mang ý nghĩa là Nhất lộ liên khoa, nghĩa là thành đạt trên đường khoa cử. Nếu bức tranh vẽ hai con cò trắng cùng đậu trên hoa sen thì mang hàm ý ‘Lộ lộ thanh liêm’, một hình ảnh cao sang thuần khiết. Người Trung Hoa xưa cho rằng, nhà nào muốn cầu khoa cử thành đạt thì nên treo tranh cò trắng đỗ trên hoa hoặc lá sen.

    3. Tranh hoặc chữ ‘Cát tường như ý’

    Người xưa thường chuộng treo một bức tranh vẽ viên ngọc như ý bên cạnh chữ Cát, vời hàm ý sẽ luôn gặp điều lành khi hành động một việc chính đáng nào đó (cát tường như ý). Những người muốn “tăng” sự cát tường lên gấp bội còn mang ngọc như ý về treo trong nhà.

    4. Tranh sơn thủy

    Là loại tranh vẽ cảnh núi non, sông suối, trên bầu trời có khi điểm thêm vài đôi chim hạc (hay cò) cùng với một vài loài cây cỏ (thường là tùng hoặc bách). Thông thường, nội dung tranh miêu tả cảnh thiên nhiên buổi sáng vì dương khí thịnh (không nên treo tranh vẽ cảnh chiều hay hoàng hôn, dù đẹp nhưng mang ý nghĩa sự tàn lụi).

    Cùng Danh Mục

    Bình Luận Facebook

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hoa Mẫu Đơn Phong Thủy Kích Hoạt Tình Duyên
  • 10 Mẫu Tranh Đồng Phong Thủy Mang Lại May Mắn, Sức Khỏe, Tài Lộc
  • Tranh Tùng Hạc Diên Niên Phong Thủy Mong Cầu Sức Khỏe
  • Đi Tìm Tranh Phong Thủy Hợp Tuổi Kỷ Tỵ
  • Tranh Thêu Phong Thủy Cho Người Tuổi Kỷ Tỵ